Archiv des Autors: Trang Bui

Nắm lấy chủ quyền của đời ta

Định đề giáo lý Làng Mai thứ 18: Ý chí tự do có được là do Tam học

Ý chí tự do, tiếng Pháp là libre arbitre. Đây là một vấn đề cam go của triết học: Thật sự có tự do ý chí hay không? Hay tất cả đều được an bài, được sắp đặt, hoặc bởi một đấng Thượng đế hoặc bởi nghiệp của ta như một định mệnh mà mình không thoát ra được?

Quanh quẩn trong vòng buồn giận

Nếu màn lưới nhân quả mà tuyệt đối thì làm sao ta thoát ra khỏi thân phận được? Vì vậy phải có một nẻo thoát, một kẽ hở nào đó. Khoa học có nói đến xác suất (probabilité), xác suất gợi ý rằng: vũ trụ thế gian có một đường thoát. Chúng ta thấy chung quanh ta có những người không thoát ra được thân phận của họ. Họ cứ đi vòng vòng, quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Đó gọi là luân hồi (đi vòng). Có những người bị trầm cảm (dépression), một thời gian thì họ bớt nhưng một thời gian sau lại rơi vào trầm cảm, rồi bớt, rồi sa xuống trở lại mà không ra khỏi được. Tuy họ có sử dụng thuốc trị trầm cảm nhưng cũng không đỡ được nhiều. Họ phải uống nhiều tuần, nhiều tháng, nhưng thuốc không giúp được cho bệnh nhân thoát ra, mà có thể bệnh càng ngày càng nặng hơn. Cái buồn, cái giận, sự tuyệt vọng của ta cũng vậy, có khi ta trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng, của cái giận, cái buồn của ta. Tuy sau một thời gian thì cái giận, cái buồn, sự tuyệt vọng có thể bớt đi, nhưng nguyên do của cái buồn, cái giận, của sự tuyệt vọng đó vẫn còn và ta biết trong tương lai ta lại sa vào hầm hố của sự tuyệt vọng, của cái buồn, cái giận nữa. Ta cứ đi vòng, đi vòng hoài.

Có những người khổ đau trong liên hệ vợ chồng và họ không thoát ra được. Đến một lúc nào đó họ nghĩ là phải ly dị thì mới có cơ hội chấm dứt khổ đau. Có người đã ly dị và cưới một người khác, nhưng những vấn đề và những khổ đau cũ vẫn cứ tiếp tục vì họ có những tập quán, những thói quen, những cách hành xử, những lề lối suy tư đã giam hãm họ trong vòng khổ đau đó. Họ vẫn tiếp tục đối xử với người mới bằng cách thức đã đối xử với người cũ, vì vậy tuy có người mới nhưng họ vẫn rơi vào vòng khó khăn, khổ đau. Có người đã ly dị ba hay bốn lần để cưới người mới, nhưng cuối cùng họ cũng ở trong vòng quanh quẩn không thoát ra được. Làm thế nào để có thể thoát ra?

Ngựa theo lối cũ, trâu quen đường về

Có những nguyên nhân nội tại ở bên trong mình, hoặc trong thân thể hoặc trong tâm thức, và có những nguyên nhân ngoại tại ở hoàn cảnh bên ngoài. Khi đối diện với những sự kiện xảy ra thì cách ta hành xử, cách ta phản ứng trong lần sau cũng giống hệt như cách ta phản ứng trong lần trước. Tiếng Việt ta có câu: ngựa theo lối cũ. Nếu ngày xưa ai có giữ trâu hay giữ bò thì biết: ta không cần phải chỉ đường đi cho những con trâu, con bò. Chúng quen đường về, ta chỉ cần ngồi chơi trên lưng trâu và trâu đưa ta về nhà. Chúng ta cũng vậy, cách hành xử của ta, cách phản ứng của ta đã trở thành thói quen. Nhiều khi ta có cảm tưởng là ta quyết định, nhưng thật ra không phải là ta quyết định mà chính là thói quen, cách hành xử lâu đời của ta quyết định.

Khi bước vào một cửa tiệm để mua áo, đứng trước một dãy áo dài năm sáu chục cái. Ta chọn xem áo nào, màu sắc nào, kiểu nào ta thích. Ta có cảm tưởng là ta có tự do chọn lựa, nhưng nhìn kỹ thì tự do đó rất ít, hoặc có thể nói là không có, vì những cái ta thích đã được quyết định trước rồi. Ta đã có sẵn sở thích về màu sắc, hình dáng, kiểu may và khi đi ngang qua thì ta bị nó bắt. Ta bị chọn chứ không phải ta chọn. Ta bị cái đó chọn, đi ngang qua nó là ta phải mua, mà thật ra ta mua nó hay nó mua ta thì chưa biết được. Sở thích của ta đã có sẵn, ta đã quen với màu đó, với hình thái đó rồi.

Cách đây chừng 30 năm, tôi đi vào một cửa tiệm ở Tokyo để mua một vuông khăn về cột mấy cuốn kinh. Tôi đứng trước những vuông khăn (bên Nhật Bản người ta bán rất nhiều vuông khăn bằng lụa để cột hành lý), cô bán hàng hỏi:

– Thầy chọn cái nào?

Tôi mỉm cười nói:

– Tôi đâu có chọn. Tôi để cho nó chọn tôi.

Cô bán hàng rất ngạc nhiên, nhưng sự thật là như vậy. Ta bị chọn tại vì những sở thích của ta đã được viết sẵn trong tâm của ta do cách ta được huấn luyện, cách ta tiếp nhận kinh nghiệm của cuộc đời. Vì vậy ý chí tự do của ta hầu như là không có.

Thói quen của một con người cũng như vậy. Mỗi khi có sự việc gì xảy ra thì người đó có khuynh hướng nhìn nhận và phản ứng giống như nhau. Lần thứ nhất, người đó phản ứng như vậy; lần thứ hai, nếu sự tình xảy ra như vậy thì người đó cũng phản ứng giống y như lần trước và lần thứ ba cũng thế. Khi nào có sự việc xảy ra tương tợ thì người đó lại phản ứng theo thói quen mà người đó đã được huân tập.

Những con người  máy

Trong một buổi họp khi nghe một câu nói không hợp thì ta thường phản ứng lại một cách rất tự nhiên (réflexe). Học về thần kinh não bộ, ta biết trong não bộ của ta có những tế bào thần kinh đóng vai trò truyền tin tức về trung ương và có những tế bào thần kinh có nhiệm vụ đáp ứng lại và ra lệnh cho những cơ bắp của thân mình hành động. Người ta nói đến “cung phản xạ” (arc de réflexe). Ví dụ như khi ta đạp nhầm cây đinh thì cái đau được tế bào thần kinh hướng tâm chuyển vào trung ương, những tế bào thần kinh ở trung ương nhận được và ra lệnh cho bắp thịt hành động liền lập tức. Vì vậy khi đạp đinh thì ta nhảy nhỏm lên và rút chân lại. Đó gọi là một cung phản xạ.

Đứng về phương diện tâm lý, khi đứng trước một hoàn cảnh bất như ý thì tự nhiên ta hành xử theo một phản xạ rất máy móc. Trong cuộc sống hàng ngày ta hành xử một cách máy móc rất nhiều. Ta phản ứng lại, căn cứ trên những kinh nghiệm và sự học hỏi trước đây chứ ta không đưa tâm của ta vào để thật sự quyết định. Trong khi ăn cơm nếu có chánh niệm, có để ý quán sát thì ta sẽ thấy cách ta nhai như thế nào, lưỡi của ta chuyển thức ăn từ vùng này sang vùng kia trong miệng như thế nào và ta thấy rõ là kỳ thực ta không đang ăn mà là ta đang bị ăn. Ta không ngờ lưỡi của ta, răng của ta, hàm của ta làm việc giỏi như vậy. Răng, hàm và lưỡi làm việc rất hay. Đôi khi ta không cần phải để tâm vào hành động nhai mà do phản xạ nhai tự nhiên, giống như cái máy, nó tự làm. Ta có một hệ thống thần kinh tự động (automatic nervous system) lo hết cho ta.

Quan sát những người xung quanh ta, họ cũng sống như những người máy. Có những chiếc máy bay không cần người lái vẫn bay được, vẫn làm việc được, vẫn đáp xuống được an toàn. Nhiều người trong chúng ta cũng sống như vậy. Chúng ta đang lái xe, nhưng kỳ thực chúng ta không có mặt ở đó, tâm của ta đang hoàn toàn ở một chỗ khác. Ta đang lái xe bằng tập quán mà ta đã học hỏi được trong quá khứ. Ta lái như một cái máy và khi có sự việc gì xảy ra đột ngột thì ta cũng phản ứng như một cái máy, mà không có sự can thiệp của chánh niệm.

Chúng ta ăn cơm một cách máy móc, chúng ta lái xe một cách máy móc, chúng ta bước đi trên đường một cách máy móc, chúng ta rửa chén, đánh răng một cách máy móc. Chúng ta là những con người máy. Chúng ta phản ứng lại những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta như một cái máy.

Khi hoàn cảnh bất như ý xảy ra, ta phản ứng một cách thô bạo, giận dữ, ta gây ra đổ vỡ giữa ta và người khác. Khi đổ vỡ xảy ra rồi thì ta hối hận: Trời ơi! Tại sao ta nói như vậy, tại sao ta làm như vậy? Ta đã biết nói như vậy và làm như vậy sẽ gây ra đổ vỡ mà tại sao ta cứ nói và cứ làm? Ta giựt tóc, đấm ngực, ta tự trách mình và tự hứa với mình lần sau nếu có sự tình như thế xảy ra thì ta sẽ hành xử theo cách khác. Ta rất thành thật với ta. Nhưng lần sau, khi sự tình xảy ra tương tự thì ta cũng vẫn hành xử như thế. Những thói quen, những cái ta học hỏi trong quá khứ, cách ta phản ứng đã trở thành  nếp và ta cứ tiếp tục gây khổ đau cho ta và cho người khác. Nó giống như một định mệnh mà ta không thoát ra được, không thay đổi được.

Tác phẩm “L’étranger” (Người xa lạ) của Albert Camus có kể về người tử tù tên Meursault sắp bị đem ra hành quyết. Anh ta chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ để sống. Nằm ngửa trong phòng giam, tự nhiên anh ta thấy được một khung trời trên trần nhà. Khung trời đó chỉ nhỏ chừng một thước vuông thôi, nhưng không biết điều gì đã xảy ra mà lần này nhìn trời anh ta thấy màu trời xanh rất huyền diệu, rất mầu nhiệm. Anh ta đã thấy được màu trời một cách sâu sắc có thể là nhờ ý tưởng mình sẽ bị hành hình trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đã hơn ba mươi năm để thấy trời xanh, nhưng chưa bao giờ anh tiếp xúc được với trời xanh một cách hiện thực như vậy. Có thể là vì gần chết nên anh có được cơ hội đó. Lúc đó anh có một cái thấy rất mới. Anh quyết định là từ bây giờ cho đến lúc bị đem ra hành quyết anh phải sống trong tỉnh thức. Khi ông cha muốn vào để rửa tội cho anh thì anh ta đã từ chối, anh không muốn mất thì giờ tại vì anh chỉ có hai mươi bốn giờ để sống. Anh muốn trong hai mươi bốn giờ còn lại đó giây phút nào cũng là giây phút tỉnh thức. Anh ta tự hỏi liệu ông cha đó có thể giúp gì được cho anh, trong khi chính ông cha đó có thể cũng đang sống trong sự quên lãng. Sống như vậy thì cũng như một người chết (Il vit comme un mort). Triết lý của cuốn “L’Étranger” là giây phút tỉnh thức (le moment de conscience).

Hầu hết chúng ta sống một cách rất máy móc, không phá tung được xích xiềng của thói quen tư duy và hành xử để thoát ra. Chúng ta đi không có ý thức, ăn không có ý thức, lái xe không có ý thức. Chúng ta để cho cái máy điều khiển cho nên ta chỉ quanh quẩn trong vòng buồn giận, thất vọng, tuyệt vọng và bị giam hãm trong vòng buồn giận đó mà không thoát ra được. Chúng ta chưa bao giờ thật sự có tự do. Chúng ta có thể làm được nhiều việc, nhưng những việc đó cũng chỉ được làm một cách máy móc mà thôi.

Trong đoạn cuối của cuốn “Thả một bè lau” tôi có bàn tới vấn đề ý chí tự do. Tôi đưa ra một ví dụ: Một anh chàng kia vào trong một buổi họp, mỗi khi bị người ta nói một câu làm phật ý thì anh phản ứng rất giận dữ, vì vậy không một buổi họp nào mà anh được thành công. Vì ý thức được điều đó nên anh nói:

-Tôi sẽ không đi họp nữa tại vì mỗi khi đi họp mà nghe người ta nói những câu xóc óc thì tôi lại phản ứng như vậy. Tôi đi họp chỉ vô ích thôi!

Một người bạn nói:

-Thôi kỳ này đi họp tôi sẽ ngồi bên anh, tôi sẽ cầm tay anh trong suốt buổi họp và mỗi khi có ai nói điều gì khó nghe thì tôi sẽ bấm vào tay anh một cái để nhắc nhở anh. Khi thấy tôi bấm vào tay anh thì anh biết rằng anh sẽ giữ im lặng, biết rằng nếu anh phản ứng thì sẽ làm hư buổi họp và gây ra những xáo trộn như những lần trước. Anh chỉ cần im lặng mỗi khi tôi bấm vào tay anh thì có thể có một sự thay đổi.

Nhờ người bạn cầm tay trong suốt buổi họp mà lần đầu tiên anh ngồi yên được mà không phản ứng. Có một cái gì rất mới đã can thiệp vào đời anh, tại vì chuyện đó chưa bao giờ xảy ra cho anh. Lâu nay anh chỉ phản ứng như một cái máy. Cái can thiệp vào là bàn tay của một người bạn.

Trong Truyện Kiều có nhân vật sư cô Giác Duyên. Giác Duyên có nghĩa là một điều kiện để thức tỉnh. Chúng ta sống trong mê, sống như một cái máy, nên chúng ta cứ quanh quẩn trong vòng buồn giận mà không thoát ra được. Nhưng nếu có một Giác Duyên đi vào cuộc đời ta thì việc đó có thể sẽ tạo ra được một hoàn cảnh mới.

Tam học là con đường thoát

Nếu ta đã từng là nạn nhân của những phản ứng do thói quen, nếu ta đã từng bị giam hãm trong vòng buồn giận không thoát ra được, nếu ta cứ đi từ giai đoạn trầm cảm này đến giai đoạn trầm cảm khác thì ta phải biết con đường đưa ta thoát ra là con đường Tam học. Tam học là niệm, định và tuệ. Niệm là nhắc nhở, là ý thức được những gì đang xảy ra.

Người bạn cầm tay ta trong suốt buổi họp và bấm một cái khi thấy ta sắp phản ứng trước tình trạng xảy ra, đó là niệm. Người bạn nhắc nếu anh phản ứng thì anh sẽ gây đổ vỡ. Tôi bấm tay anh để anh đừng phản ứng, anh ngồi yên thôi. Đó là niệm.

Ý chí tự do bắt đầu từ niệm, không có chánh niệm thì không có ý chí tự do. Theo Duy biểu học, tâm của ta biểu hiện thành những tâm sở hay tâm hành. Có tất cả 51 tâm hành, trong đó có tâm hành xúc (contact). Một sự tình xảy ra ở hoàn cảnh bên ngoài đánh động lên tâm hành bên trong, đó là tác ý (attention, advertance), tiếng Phạn là manaskāra. Tâm hành xúctác ý phát khởi và giao lưu với những tâm hành khác như tâm hành thọ (sensation, feeling), tâm hành niệm tức nhớ tưởng. Niệm ở đây chưa phải là niệm trong Tam học, mà mới là sự hồi tưởng. Trong ta có những khổ đau, những kinh nghiệm, và khi tiếp cận với một sự kiện nào đó (xúc) thì cái thấy đó có thể đánh động ký ức của ta (tác ý). Ta nhớ lại những chuyện đã xảy ra ngày xưa. Ví dụ ta thấy một người mà nét mặt hao hao giống như nét mặt của người ta thương ngày xưa thì ta nhớ người thương của ta. Xúc tạo ra tác ý, hình ảnh của người thương ngày xưa trở lại và đưa tới cảm thọ (thọ). Cảm thọ đó có thể là khó chịu, có thể là dễ chịu, nhớ nhung hay buồn khổ. Một âm thanh nào đó gợi ta nhớ lại người đã làm cho ta đau khổ và khi nhớ lại những kỷ niệm đau khổ thì cảm giác đó có thể là cảm giác đau khổ. Trong khi đó, một người khác cũng nghe cùng một âm thanh ấy, nhưng họ không có kỷ niệm, không có quá khứ như vậy nên cảm giác của người đó không giống cảm giác của ta.

Xúc đánh động tới tác ý, tác ý đánh động tới niệm, niệm đánh động tới thọ, thọ đánh động tới tưởng (tri giác). Tri giác của ta tùy thuộc rất nhiều ở các tâm hành khác như thọ, tác ý v.v… Đó là chúng ta đơn giản hóa chứ sự thật thì có thể có đến ba hay bốn chục tâm hành cùng hiện hành một lúc để đưa tới thọ hay tưởng, rồi tưởng đưa tới tư. Tư (volition) là ý muốn làm cái gì đó, có thể là để phản ứng lại, phản ứng một cách giận dữ, một cách trìu mến hay một cách buồn rầu. Mỗi khi có một cảm thọ hay một cái tưởng thì tự nhiên có tư, tức là có một ý muốn làm một cái gì đó, hay nói một cái gì đó để phản ứng lại (như một phản xạ). Nghe một câu nói hay thấy một cái gì chướng tai gai mắt, tự nhiên ta muốn đáp lại liền. Tất cả cái đó phát sinh từ nhiều nguyên nhân, những tâm hành trong ta đồng thời tạo tác với nhau.

Trong 51 tâm hành có những tâm hành tích cực và những tâm hành tiêu cực. Trong ta có tâm hành tham (thèm khát), tâm hành sân (giận dữ), tâm hành si (u mê), tâm hành mạn (mặc cảm cho mình là hơn, là thua hay là bằng người). Những tâm hành tiêu cực còn nhiều (như nghi, tà kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu v.v…) Nhưng có điều lạ là trong ta cũng có những tâm hành ngược lại, những tâm hành tích cực như vô tham, vô sân, vô si, xả v.v… Chúng ta sở dĩ có tâm hành thất niệm tại vì chúng ta cũng có tâm hành niệm.

Học về nội dung của 51 tâm hành ta thấy: Trong chúng ta có tâm hành hại (violence)tức là ý muốn trừng phạt, muốn đánh, muốn làm cho người kia khổ. Nhưng trong tâm ta cũng có tâm hành gọi là bất hại (non violence). Bất hại là avihiṃsā,là bất bạo động. Trong tâm ta có những tâm hành đối kháng nhau và chúng đang cùng có mặt. Ta có tâm hành si, tức sự u mê, hay tri giác sai lầm. Nhưng tâm hành vô si, tức tuệ giác (Bát nhã) cũng có trong tâm ta. Hễ có một tâm hành tiêu cực thì cũng có một tâm hành tích cực.

Trong khoa học vật lý nguyên tử người ta khám phá ra những lạp tử, tức những đơn vị bé nhỏ của vật chất như điện tử. Điện tử (électron) có tính chất âm. Người ta khám phá ra rằng nếu có điện tử thì có phản điện tử (anti électron, có khi gọi là positron), có giới tử (méson) thì có phản giới tử (antiméson), có vật chất (matière) thì có phản vật chất (antimatière), có chất điểm (particule) thì có phản chất điểm (antiparticule).

Trong đạo Phật có ý niệm về sắc và không. Sắc là matière và không là antimatière. Học về Tâm lý học Phật giáo chúng ta thấy những điều rất kỳ diệu. Trong tâm ta có yếu tố của sự u mê, nhưng đồng thời cũng có yếu tố của sự giác ngộ. Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, ta không được học hỏi, không được tiếp xúc với Giác Duyên, nghĩa là với những yếu tố có khả năng đưa ta ra khỏi vòng buồn giận, nên ta chỉ đi quanh quẩn trong đó mà thôi. Mỗi khi nghe hay thấy cái gì đó thì ta phản ứng liền để gây ra đau khổ. Ta không chỉ nghe và thấy những gì ở bên ngoài mà ta cũng tiếp xúc được những gì ở bên trong như những kỷ niệm, tư duy và mỗi khi nghĩ nhớ lại thì ta cũng phản ứng. Ta phản ứng để gây đau khổ cho chính mình và cho người khác. Ta bị trầm cảm (dépression) cũng vì vậy. Ta có những tư tưởng, những cái nhìn tiêu cực rồi ta cứ đi quanh đi quẩn, nếu ta cứ nhai đi nhai lại những tư tưởng và nhận thức tiêu cực đó thì lẽ đương nhiên ta sẽ bị rơi vào trong hố trầm cảm. Ta không thoát ra được. Trong nội thân cũng như trong hoàn cảnh của ta có những yếu tố đó và tùy theo cách ta nhận thức chúng mà chúng quyết định đời ta, chúng làm cho ta đi vòng vòng không thoát ra khỏi được. Làm sao để có thể can thiệp vào, để có thể chấm dứt được lề lối phản ứng mà ta đã theo trong bao nhiêu năm trong quá khứ? Câu trả lời của đạo Phật là phải có niệm, định và tuệ, tức là Tam học.

Chuyện đâu còn có đó

Cách thức ta phản ứng đã thành một tập khí, một thói quen. Bây giờ ta tập như thế nào để có được những thói quen mới, những phương pháp đối phó khác, thì mới có thể thoát khỏi tình trạng cũ. Ta tự dặn mình, trong quá khứ ta đã từng có phản ứng gây ra đổ vỡ. Từ bây giờ ta quyết tâm không làm như vậy nữa. Mỗi khi có hoàn cảnh bất như ý xảy ra thì ta không phản ứng liền, ta không để cơn giận làm chủ lấy ta để ta có thể nhìn cho kỹ và nhờ đó ta có thể có một lề lối phản ứng khác. Trong tiếng Việt có câu “Chuyện đâu còn có đó”, tại sao ta phải phản ứng liền? “Chuyện đâu còn có đó, tại sao ta phải hấp tấp?” là tuệ giác của cả một dân tộc.

Tại sao ta phải quyết định liền? Cho phép ta có được ba phút để nhìn lại và ta sẽ biến lối hành xử này thành một thói quen tốt. Tại sao ta phải nói lại một câu, hay phải làm gì đó để phản ứng? Ta có thì giờ, ta phải cho mình một không gian, quý vị hãy thử làm đi!

Nhưng muốn làm được thì ta phải luyện tập. Trước đây ta đã từng sống và phản ứng lại hoàn cảnh một cách máy móc. Từ hôm nay ta không muốn tiếp tục cách sống đó nữa. Ta đặt cho ta những kế hoạch để ta có thể làm hay hơn trong tương lai. Đây là phương pháp thực tập chánh niệm. Chánh niệm là ý thức được những gì đang xảy ra mà không cần phải đi tới một quyết định, không cần phải chối bỏ hay chấp nhận ngay lập tức.

là quyết định muốn làm cái gì đó, muốn phản ứng lại. Thường thường là khi có thọ và tưởng rồi là ta muốn hành động, muốn phản ứng ngay. Nhưng bây giờ ta không muốn đi tới liền, ta muốn cho ta một không gian, ví dụ như ta để ra vài ba phút để thở hay để đi thiền hành. Chuyện đâu còn có đó, ta không cần phải gấp gáp. Tuệ giác có thể tới trong những phút đó vì niệm thường đưa tới định và tuệ.

Nếu quý vị đã từng bị sa vào trạng thái trầm cảm và rất sợ phải sa vào lần nữa thì quý vị có thể thực tập phương pháp này. Ta phải biết, phải nhận diện được những gì xảy ra trong tâm của mình. Nếu đó là một tư tưởng có tính cách tiêu cực, bi quan, mặc cảm thì ta biết đó là một tư tưởng tiêu cực, bi quan, mặc cảm. Trước hết ta phải nhận diện và cho nó một không gian, không hẳn là ta phải hành động liền. Khi nhận ra đó là một tư tưởng bi quan, chán nản thì ta nói: “À, đây là một tư tưởng bi quan, chán nản”. Nếu ta cứ quanh quẩn đi theo nó thì ta có thể sa vào trầm cảm. Nếu ta cứ nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn giận hay tuyệt vọng đó thì thế nào ta cũng rơi xuống hố trầm cảm. Nhưng nếu trong khi đang nhai đi nhai lại tư tưởng bi quan, buồn nản đó mà ta biết là ta đang nhai thì đã có một cái gì mới xảy ra rồi. Thường thì ta không biết là ta đang nhai đi nhai lại cái tư tưởng bi quan, buồn thảm, sầu khổ đó. Ta bị nó đưa đi. Ma đưa lối quỷ dẫn đường là vậy.

Nhưng khi có niệm là ta biết ta đang nhai lại, mà biết ta đang nhai thì tự nhiên ta hết nhai liền. Ta cho ta một không gian, có thể là ba phút, để ngồi thở hoặc đi thiền hành. Ta cho ta một cơ hội để điều kiện giác ngộ có thể xảy ra. Chìa khóa giúp ta thoát ra khỏi thân phận nô lệ của ta để đạt tới tự do nằm ở chỗ là ta ý thức được cái gì đang xảy ra. Đó là niệm. Đây là một sự luyện tập chứ không phải là một lý thuyết.

Phương pháp thực tập: Có niệm là bắt đầu có tự do

Ta phải luyện tập từ từ. Trước hết ta phải tập thở. Thở vào ta biết ta đang thở vào; thở ra ta biết ta đang thở ra. Trong đời sống hàng ngày, nếu không tu tập, ta cứ thở vào thở ra như một cái máy. Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, ta vẫn thở nhưng hơi thở này rất khác, hơi thở này chứng tỏ là ta đã đưa được niệm vào trong hơi thở. Trước khi lái xe, tại sao ta không cho mình một hay hai phút để ngồi thở? Đó gọi là ý thức về hơi thở, tức là một cách luyện tập để biết được những gì đang xảy ra, để làm chủ được chúng mà không bị nô lệ vào chúng. Khi bước đi, nếu không ý thức thì ta sẽ không làm chủ được bước chân, ta sẽ bước đi như bị ma đuổi. Nó bước chứ không phải ta bước. Nó là cái gì? Nó là cái máy. Nó bước đi, nó thở chứ không phải ta đi, ta thở.

Lúc mới bắt đầu, mỗi ngày ta nên thực tập ba phút, đi từng bước và ý thức được từng bước chân của mình. Ta không còn là cái máy nữa, ta là con người tự do. Đó là sự bắt đầu của ý chí tự do, nắm được hơi thở, nắm được bước chân.

Mỗi ngày ta có thể uống trà nhiều lần. Nhưng nếu muốn thực tập thì ta tự qui ước là mỗi ngày ta sẽ uống chén trà đầu tiên trong chánh niệm. Trong khi uống trà ta biết là ta đang uống trà, ta đang đưa chén trà lên cao, ta đang uống trà và đang để chén xuống. Ý chí tự do bắt đầu.

Trước hết ta phải nắm được hơi thở, rồi bước chân, rồi một vài hành động của mình. Cố nhiên ta không thể nào làm được tất cả trong chánh niệm, nhưng ta có thể chọn vài phương pháp thực tập và mỗi ngày ta phải làm cho được. Ví dụ như chải răng, sáng nào chúng ta cũng chải răng, nhưng thường thường thì ta chải răng như một cái máy. Bây giờ ta quyết định: Mỗi khi chải răng ta thực tập chánh niệm. Để kem đánh răng lên bàn chải, ta biết ta đang để kem đánh răng lên bàn chải, đưa tay lên chải răng ta ý thức được từng cử động của bàn tay mình. Chúng ta có thể để hai phút để chải răng mà hai phút đó là hai phút chải răng trong chánh niệm. Ta không để cho cái máy làm, ta làm với ý thức và tự do của mình. Chúng ta nên tìm thêm vài phương pháp thực tập và quyết định làm mới mình mỗi ngày. Buổi sáng chúng ta mở cửa nhìn ra ngoài và ngồi yên ba phút, để ý tới những tiếng động đang xảy ra.

Sáng hôm nay vào thiền đường, tôi đã ngồi xuống rồi trong khi một số còn đang đi vào. Tôi đã áp dụng phương pháp này, ngồi rất yên và để ý tới những âm thanh trong thiền đường. Tôi nhắm mắt lại và nhận diện những âm thanh đang xảy ra. Đó cũng là ngồi thiền, chứ không phải đợi có ba tiếng chuông rồi ta mới bắt đầu tập thở. Ta ngồi yên và những âm thanh đó không quấy động được ta, không hẳn là khung cảnh phải thật yên ta mới ngồi thiền được. Có tiếng kéo ghế, có tiếng xì xào, có tiếng đẩy gối, nhưng tất cả những âm thanh đó không làm rộn được ta vì lúc đó chủ đích của ta là ngồi để nhận diện những tiếng động mà ta có thể nghe được.

Quý vị cũng có thể làm như vậy. Trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng thức dậy, ta có thể ngồi ba phút để lắng nghe và nhận diện những âm thanh trong nhà mình. Ta có thể ngồi trước cửa sổ nhìn ra, nhận diện cội cây này, bông hoa kia, mái nhà đó. Nói tóm lại là ta phải tìm cách để thoát ra khỏi thân phận nô lệ của mình. Tự do là nhờ ta có niệm. Khi có niệm thì ta bắt đầu sống đời sống mới của ta. Khi ta có khả năng thực tập như vậy trong một thời gian, hoặc ba hoặc năm hoặc bảy tuần, khi ta có thể nhận diện được bước chân của ta, hơi thở của ta, cử chỉ của ta, khi ta uống trà hay rửa bát thì lúc đó ta có thể bắt đầu nhận diện được tư duy cảm thọ của mình. Tuy rằng những tư duy kia đang còn tiêu cực và những cảm thọ kia có thể là còn những khổ thọ, nhưng nhận diện được chúng là đã có sự khác biệt lớn rồi. Nhận diện được chúng là mình không còn bị nô lệ cho chúng nữa.

Chúng ta khổ đau là vì chúng ta không có tự do, chúng ta chưa thoát ra được thân phận của một cái máy. Niệm giúp cho chúng ta sống không còn như một cái máy nữa. Chúng ta bắt đầu có chủ quyền. Niệm, định và tuệ có thể đưa tới cho ta những vùng năng lượng rất lớn. Có những người sống ở nước Pháp hai ba chục năm hay suốt đời mà không biết nước Pháp có những vùng rất đẹp. Họ chỉ quanh quẩn trong làng, trong tỉnh của họ. Rất tội nghiệp cho họ, họ không có cơ hội khám phá ra những cái đẹp tuyệt vời ở những miền đất khác của nước Pháp.

Chìa khóa mở tung cánh cửa những vùng mầu nhiệm

Cũng vậy, trong thân tâm của ta có những vùng rất mầu nhiệm mà ta chưa bao giờ biết tới, chưa bao giờ thăm viếng. Có thể đó là những vùng của niệm, của định và của tuệ. Ví dụ như quý vị có một máy tính xách tay, một cái PC hay một Macintosh, nhưng quý vị chưa sử dụng được hết tất cả những khả năng của máy, quý vị chỉ sử dụng được mười hoặc hai mươi phần trăm khả năng của nó thôi. Tâm ta cũng vậy, rất mầu nhiệm. Trong đó có tuệ giác, có từ bi, có hạnh phúc lớn nhưng ta chưa với tới được. Ta chỉ biết quanh quẩn trong vòng buồn giận với những tâm hành tiêu cực (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến) mà thôi. Những tâm hành như đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả mầu nhiệm như vậy mà ta lại không với tới. Hãy sử dụng những vùng mầu nhiệm của tuệ giác để thoát ra khỏi thân phận nhỏ bé của mình. Vì cứ giam mình trong vòng tham, sân, si nên ta mới gánh chịu khổ đau từ năm này sang năm khác và làm cho những người xung quanh ta cũng khổ đau theo.

Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta một chiếc chìa khóa, chìa khóa của Tam học (niệm-định-tuệ). Nếu muốn, chúng ta có thể dùng chìa khóa đó để mở tung ra biết bao nhiêu cánh cửa. Ví dụ chúng ta mới mua một ngôi nhà mới, hay một lâu đài mới. Tuy sở hữu cả một tòa lâu đài nhưng nếu chúng ta chỉ ở trong bếp, ta không có chìa khóa để đi vào các phòng lớn thì uổng biết bao nhiêu. Cũng như ở nước Pháp đẹp như vậy mà chúng ta chỉ quanh quẩn trong làng của mình, không đi tới được những nơi khác. Một lần kia đi chơi tuyết ở Vermont, tôi có nói với một người bạn:

– Theo tôi thì trong bản tuyên ngôn nhân quyền phải thêm câu này: Sinh ra trên trái đất thì mỗi người phải có quyền được thấy biển và thấy núi tuyết, vì có những người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, chưa bao giờ được thấy biển, chưa bao giờ được thấy núi tuyết. Rất uổng cho họ!

Chúng ta cũng vậy, chúng ta chỉ quanh quẩn trong vòng đau khổ của tham, sân, si; chúng ta chưa bao giờ hưởng được cái đẹp của đại từ, đại bi, đại trí tại vì chúng ta không có tự do, chúng ta không thoát ra được. Chúng ta sống đời sống hàng ngày của ta như những cái máy.

Với chìa khóa của Tam học mà đức Thế Tôn đã trao, chúng ta hãy mở tung cánh cửa của những vùng mầu nhiệm trong cuộc đời và trong tâm thức của ta. Ngài đã chỉ dẫn rất rõ: niệm là thế nào, định là thế nào, tuệ là thế nào. Nếu quý vị muốn nếm được những mầu nhiệm của sự sống, muốn thoát ra khỏi thân phận đau buồn, hạn hẹp thì quý vị phải dùng chìa khóa của đức Thế Tôn. Chìa khóa này rất rõ ràng: Đừng vội phản ứng, đừng bằng lòng đi quanh trong cái vòng nhỏ hẹp, hãy thoát ra bằng con đường thoát là niệm. Niệm là nhận diện những gì đang xảy ra.

Tự do phải tranh đấu mới có

Tôi đề nghị quý vị, nhất là những người còn mới trong sự thực tập, nên chọn cho mình vài bài thực tập, ví dụ như bài chải răng: “Tôi quyết định là từ nay mỗi khi chải răng, tôi không suy nghĩ tới chuyện quá khứ, chuyện tương lai. Tôi quyết chải răng như thế nào để ý thức được từng cử động, chải răng như thế nào để có hạnh phúc, có an lạc, có tự do trong khi tôi chải răng”. Tự do bắt đầu từ đó. Hay quý vị có thể quyết định như thế này: “Mỗi khi mở cửa xe hơi bước lên thì tôi không rồ máy liền, tôi cho tôi ba phút để ngồi thở và mỉm cười, tôi biết rằng tôi là ai và đang sắp sửa đi đâu.” Đó là những giây phút đưa lại cho ta tự do. Tự do không tự nhiên tới mà do ta tranh đấu mới có.

Sở dĩ trong lòng chúng ta đầy những u buồn, sầu khổ là vì chúng ta không có tự do, tự do đó ta phải tranh đấu mới có. Không phải là vì ta đi tới một khung trời nào đó thì tự nhiên có tự do, hay chờ đợi một thời gian nào đó trong tương lai thì ta mới có tự do. Tự do phải tranh đấu mới có, tranh đấu bằng sự thực tập chánh niệm. Khi ý thức được những gì đang xảy ra là chúng ta bắt đầu có tự do. Đó là cái bấm tay của người bạn nhắc cho ta đừng để bị kéo theo, ta phải làm chủ được mình.

Trong Tâm lý học Phật giáo, chúng ta học về những tâm hành và mỗi khi một tâm hành biểu hiện thì ta ý thức được nó, ta mỉm cười với nó và ta bắt đầu có tự do. Tại nội viện Phương Khê có một cầu thang mười tám bậc. Ba mươi năm nay, mỗi khi lên cầu thang tôi đều đi có chánh niệm, mỗi khi đi xuống cầu thang tôi đều đi xuống có chánh niệm. Tôi không để cho bước chân nào lọt ra khỏi chánh niệm. Đi trên Vạn Lý Trường Thành, hoặc leo lên Ngũ Đài Sơn thì tôi cũng đi như vậy. Leo lên máy bay, hay leo lên một cầu thang nào đó, tôi cũng đều bước những bước chân chánh niệm. Ta bắt đầu ở chỗ quyết định chọn cho mình một sự thực tập hàng ngày và ta quyết tâm làm cho được. Ví dụ nếu quý vị chọn phương pháp chải răng trong chánh niệm thì sáng nào quý vị cũng phải chải răng trong chánh niệm. Sau khi ăn cơm trưa, trước khi đi ngủ quý vị phải chải răng trong chánh niệm. Làm được như vậy mỗi ngày sẽ đưa tới chủ quyền cho ta trong đời sống hàng ngày. Có chủ quyền rồi thì ta mới nhận diện được những tư tưởng, những tư duy, những cảm thọ và những lề lối phản ứng của mình. Khi nhận diện được chúng thì ta không còn là nạn nhân của chúng nữa, ta bắt đầu có tự do. Nếu quý vị không ý thức được những gì đang xảy ra cho thân mình như là bước chân, hơi thở hay hành động thì quý vị sẽ không nhận diện được những gì xảy ra trong phạm vi cảm thọ, tri giác hay tư duy. Ta để cho tư duy tiêu cực, sầu khổ kéo đi, ta cứ gặm nhấm chúng và cứ tiếp tục khổ đau.

Chánh niệm trước hết là nhận diện, nhận diện đơn thuần mà không xua đuổi, không lên án, không vướng mắc. Có thể mỗi ngày quý vị cho mình thêm nhiều không gian, đừng vội vã phản ứng. Mỗi khi lâm vào tình trạng nào đó, hoặc quá thích thú, hoặc quá bực bội, quý vị hãy để cho mình không gian vài ba phút để thở, để đi thiền hành. Ta không cần phải phản ứng liền, chính tự do đó đưa lại cho ta ánh sáng, cho ta cơ hội có được tuệ giác. Hành động trên tuệ giác sẽ không bao giờ đem lại đau khổ. Với tôi, “án binh bất động” (có nghĩa là không làm, không nói gì hết) rất quen thuộc. Không hẳn là ta phải nói, phải làm gì mới chứng tỏ được là ta có tuệ giác, ta có cái thấy. Nhiều khi có cái thấy rồi thì ta biết là ta không cần nói, không cần làm gì cả. Ta khỏe ru và người kia cũng khỏe ru. Không phải tuệ giác chỉ đưa tới hành động, có khi tuệ giác đưa tới quyết định không hành động và cái quyết định không hành động ấy sẽ đưa tới hòa bình, an lạc và tình huynh đệ.

Xin đại chúng trong ngày hôm nay, ngày mai và ngày mốt bớt nói chuyện lại. Ta phải chiêm nghiệm, phải đặt kế hoạch cho năm mới, không phải kế hoạch làm ăn mà là kế hoạch tu học. Ta phải chọn cho ta phương pháp thực tập mà ta sẽ áp dụng trong năm tới, tôi đề nghị là những phương pháp đó phải rất cụ thể. Tôi ước muốn quý vị phải làm thế nào để khi gặp một trường hợp, một hoàn cảnh bất như ý thì quý vị phải cho mình một không gian. Không gian là một tặng phẩm rất lớn. Đừng vội quyết định! Đừng vội phản ứng! Ta cho ta ba phút để đi thiền hành, để suy nghĩ rồi ta sẽ thấy rằng không phản ứng cũng là một hành động, không phản ứng là một tuệ giác rất lớn. Tôi rất thích câu: Chuyện đâu còn có đó. Ta không cần phải phản ứng liền, để đó đã. Lúc tâm ta an lại, bình tĩnh lại thì ta sẽ thấy phản ứng lại là dại dột, là đưa tới đổ vỡ. Mỗi người trong chúng ta phải chọn sự thực tập mỗi ngày và một khi đã quyết tâm thì phải làm cho được. Những lúc chúng ta sinh hoạt hàng ngày như khi lái xe, nấu cơm, chải răng, tắm rửa hay tưới vườn là những giây phút của tự do. Chúng ta phải làm những việc đó như thế nào để có tự do. Khi ăn cơm chúng ta phải tập ăn như những con người tự do. Chúng ta ngồi ăn và để ý tới cách làm việc của răng, của lưỡi. Cái cằm của mình làm việc như thế nào? Cái hàm của mình làm việc như thế nào? Chúng ta sẽ thấy rằng lâu nay chính cái máy nó ăn chứ không phải ta ăn, cái máy đi chứ không phải ta đi, cái máy phản ứng chứ không phải ta phản ứng. Đây đúng là lúc ta phải bắt đầu nắm lấy chủ quyền của đời ta.

Thiền sư Nhất Hạnh

Trích trong „Làng Mai nhìn núi Thứu“
Định đề 18: Ý chí tự do có được là do Tam Học

Hạnh phúc là bây giờ

Bài tường thuật về Làng Mai của một ký giả người Ý

Hôm nay, ngày 10 tháng 9 năm 2014, báo La Stampa, một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý, có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Anh biên tập viên về văn hóa của tờ báo đã tham dự trọn khóa tu dành cho người Ý trong tuần lễ cuối cùng của tháng 8 tại Làng Mai, và anh đã đích thân trải nghiệm được cái gọi là “hạnh phúc là bây giờ“.

Cuộc gặp gỡ với ông thầy tu Phật giáo, thầy Thích Nhất Hạnh và cộng đồng của thầy tại Pháp. Thầy có đệ tử khắp nơi trên thế giới nhưng lại không bắt buộc họ phải bỏ đạo của họ.

Có một cái ngọt ngào hùng tráng toát ra từ những hàng cây nho, những cụm rừng, những cánh đồng xanh tốt chạy cuộn tròn ngang qua cửa sổ của chuyến xe lửa miền quê từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sức mạnh dịu dàng được tìm thấy trong lời giảng của thầy Thích Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt Nam, thầy sống với cộng đồng của mình tại Làng Mai, tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi thầy là “Thầy“, chỉ có nghĩa đơn giản là “thầy dạy học“. Thầy đã 88 tuổi. Có khi gương mặt có vẻ như nghiêm khắc của thầy bỗng nhiên bừng nở ra thành nụ cười dễ lây của trẻ thơ.

Thầy phải rời khỏi miền Nam Việt Nam vào năm 1973 và thầy đã chọn Tây phương. Martin Luther King và Thomas Merton đã biết tiếng của thầy và ở Mỹ thầy cũng được biết tới qua các chuyến đi vận động cho hòa bình. Thầy đã viết trên trăm cuốn sách phổ biến giáo lý đạo Bụt áp dụng ở Tây phương dựa trên sự thực tập chánh niệm, có nghĩa là sự ý thức và sự có mặt. Cùng với đức Dalai Lama, có thể nói thầy là một Phật tử nổi tiếng nhất trên thế giới. Điều đáng ghi nhận là thầy không bao giờ đòi hỏi đệ tử của mình phải bỏ đạo của họ. Trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 này thì hầu hết đều là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Dạ thưa thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ của kỹ thuật số hiện nay- thế hệ của những người trẻ lên mạng suốt cả ngày?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ để lên mạng. Đó là căn bệnh của thời đại. Khi chúng ta ngồi ba giờ đồng hồ trước máy tính thì ta quên hoàn toàn là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện mà ta có thể sử dụng để làm lợi lạc. Nhưng internet cũng tạo ra rất nhiều vấn đề. Sử dụng internet là một loại tiêu thụ. Ta tiêu thụ những tư tưởng, những hình ảnh, những âm thanh mà ta tiếp xúc và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hay không lành mạnh. Người ta bị tràn ngập bởi một số lượng thông tin đến thẳng từ trên mạng. Nhiều người trong chúng ta nghiện internet. Ta đánh mất mình trong cái biển thông tin đó. Ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là lên mạng thì chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn hơn nữa.

Chánh niệm giúp cho ta biết sự điều độ trong khi lên mạng và đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc thật sự có ích lợi hay chỉ làm cho ta cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, những quảng cáo, những loại phim khơi dậy sự thèm khát thì ta đồng thời cũng tiêu thụ sự giận hờn, sự bạo động, sự sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy với cái thấy đó ta có thể phân biệt thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ thứ 20 người ta đã đưa chủ nghĩa cá nhân lên một vị trí nổi bật, và điều này đã tạo ra nhiều khó khăn và đau khổ. Người ta đã tạo ra sự chia cắt giữa mình và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác…Chúng ta không ý thức được sự tương quan giữa mình và tất cả sự vật chung quanh mình. Trong đạo Bụt gọi đó là “tương tức“. Đạo Bụt cống hiến một con đường đạo đức dựa trên cái thấy sâu sắc về tính tương tức. Những gì xảy ra cho một cá nhân sẽ ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Như vậy sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta thấy được là người ta đã tàn hại các loài vật và hành tinh này để sản xuất thịt cho ta tiêu dùng. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất. Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Họ nghĩ rằng những thứ đó đem lại hạnh phúc cho họ, nhưng ngược lại nó sẽ đưa tới sự tàn hoại thân tâm họ. Những người trẻ thường hay lẫn lộn tình yêu chân thật và tình dục. Tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, sự cô đơn và sự tuyệt vọng nhiều hơn. Chánh niệm giúp cho ta làm phát khởi sư hiểu biết về người kia. Nếu không có sự hiểu biết thì không thể có một tình yêu đích thực.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất của sự chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã  chứng minh cho ta thấy rằng: không có gì sinh ra, không có gì mất đi, tất cả đều thay đổi.

Quan sát một đám mây, ta hỏi đám mây có thể chết được không? Đám mây có thể từ có mà trở thành không hay không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây chỉ có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy sự xung đột và bất công xã hội. Làm sao cải thiện được điều đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công xã hội phát sinh ra từ tâm của con người. Đạo Bụt cống hiến cho ta những phương pháp thực tập để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực trong ta. Khi những yếu tố đó có mặt thì ta có thể chế tác được sự bình an trong ta và trên thế giới. Khi tâm ta bị tham vọng và sự sợ hãi kéo đi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh ra. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta tưới tẩm, nuôi dưỡng hạnh phúc và sự bình an trong giây phút hiện tại. Đó là một sự đóng góp tuyệt vời cho thế giới và đồng thời đó cũng là nền tảng để những  nhà hoạt động tích cực có thể làm việc.

Thầy giảng dạy niệm và định, tuy nhiên hiện nay thế giới được đánh dấu bằng khả năng tập trung ngày càng giảm…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta bị phân tán. Thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những thứ  mới làm cho tâm ta bị phân tán. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu chúng tôi được mời tới hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 người tại trụ sở chính của Google ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập “dừng lại“, tại vì trong xã hội hiện nay chúng ta có thói quen “rong ruổi“. Nếu có khả năng dừng lại thì ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đó là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để được hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện chúng thì ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nắng lưng đồi

Thơ: Huệ Tri

Thầy – Mối tình tri kỷ

Con mơ nắm tay Thầy
Đi trên đồi nắng ấm
Hương mùa Thu thật lắng
Không rộn ràng như Xuân

Con mơ bước cùng Thầy
Đi qua đời biến động
Bước chân Thầy cẩn trọng
Bên Thầy con thong dong

Con theo hướng của Thầy
Đi về phía biển rộng
Bao dung và chấp nhận
Lòng không để chông chênh

Niềm tin con từ đó
Vững như bước chân Thầy
Con vui cùng huynh đệ
An vui giữa Ngộ – Mê

Trăng và ẩn sĩ

*Trăng khuya mở lối rong chơi
Người còn ngồi đó không lời… lặng yên!
*Bốn bề đẹp đến nao lòng
Trăng và ẩn sĩ vốn không ngoại trừ.
*Lòng không gợn chút mây non
Vầng trăng ngày cũ vẫn còn uy nghiêm.
*Núi đồi đêm khuya vắng
Ánh trăng chiếu dịu dàng
ẩn sĩ ngồi thinh lặng
bỗng một tiếng cười vang.
*Vầng trăng nghiêng nét nhỏ
Muôn sao sáng lung linh
Bước chân khuya lặng lẽ
Huyền diệu một bức tranh.

Xin chào các cô

Ôi cô đơn cô độc
Cô quạnh lẫn cô liêu
Vì sao trong một chiều
Nhiều cô buồn đến vậy?

Hãy chỉ cho tôi thấy
Đám mây trắng trên cao
Tự do chơi cùng gió
Hát khúc hát tự hào

Hãy để cho tôi nghe
Lời sóng vỗ dạt dào
Sóng đùa bờ cát trắng
Niềm kiêu hãnh dâng cao

Hãy để tôi được chạm
Sâu thẳm của niềm đau
Tôi dang tay ôm lấy
Với tất cả ngọt ngào

Chiều nay tôi sẽ khóc
Cho mềm trái tim yêu
Cho hồn tôi thổn thức
Sẽ thanh thản hơn nhiều

Và cô đơn cô độc
Cô quạnh lẫn cô liêu
Không làm tôi chùn bước
Giữa muôn vạn đông chiều.

Vọng thu

Chắc bây giờ ở Waldbröl
Mùa thu đã chín lá phô đỏ vàng
Nhớ mùa thu ấy thênh thang
Đường thu huynh đệ dàn hàng rong chơi
Nhớ thu thu đã xa rồi
Nhớ người người cũng xa xôi dặm đường
Mình ta trở lại quê hương
Những người năm ấy bốn phương xa vời
Năm châu bốn biển đạo, đời
Tình không vướng bận ân thời vẫn sâu
Mai này huynh đệ nhớ nhau
Nhặt vài chiếc lá đẹp màu thu tươi
Ép trong trang vở bồi hồi
Nhớ nhau ngắm lá mỉm cười an nhiên
Vì ta chung lối bước thiền
Trước sau thu vẫn bình yên tươi màu.

Tự do

Cuộc hành trình muôn dặm
Chỉ mình ta đến, đi
Thế nhân nào biết được
Đâu là chốn ta về
Đừng buộc lòng với ai
Tình đời cơn mộng dài
Trần gian vốn quán trọ
Ngủ tạm rồi đi ngay
Phủi tay muôn chuyện cũ
Đi đến áng mây bay.

Đem sự thực tập ra thế giới

Thầy Pháp Hữu

Cách thức chúng ta hành động sẽ ảnh hưởng lên những người thương, lên cộng đồng, lên quốc gia của ta và lên cả thế giới. Nếu có tuệ giác ta sẽ tự hỏi, mình nên làm thế nào để có thể đóng góp một phần vào sự thay đổi tích cực. Hay nhất là chúng ta không hành động với tính cách một cá nhân mà nên làm thế nào để góp phần vào sự thức tỉnh tập thể.

Đứng trước sự khủng hoảng đa diện, chúng ta đang cần vô số vị bồ tát – những con người vị tha ý thức được hạnh phúc của hành tinh này không khác với hạnh phúc của chính mình. Nếu có mặt thực sự khi nghe hay đọc tin tức, chúng ta không thể nào không đau khổ. Không đau khổ là chúng ta trốn tránh sự thật.

Cốt lõi của sự thực tập là nhận diện khổ đau mà không bị nhận chìm vào trong đó hay trở thành nạn nhân của nó. Ta ôm ấp, chấp nhận và thấy rõ điều gì nên làm và điều gì không nên làm. Đó là thiền tập. Đó là cách thức chúng ta kết hợp chiều sâu tâm linh với đời sống hàng ngày. Ta nhận diện, ôm ấp, biết rõ sự thay đổi là cần thiết và trở thành một với nó. Nếu học được cách thức nhận diện, thấu hiểu và chăm sóc khổ đau, chúng ta sẽ có cơ hội chuyển hóa. Đó là sức mạnh nội tâm, là sự lặng yên giữa cơn bão tố.

Chúng ta thường có khuynh hướng muốn người khác thay đổi mà không sẵn sàng để thay đổi chính mình. Thực tập chánh niệm giúp ta gánh lấy tránh nhiệm của mình. Đầu tiên, chúng ta hãy tập lắng nghe. Đôi khi chúng ta cứ chắc chắn là chỉ có một con đường thôi và nó trở thành giáo điều của mình. Chúng ta phải lắng nghe và học cách chia sẻ với tình thương, sử dụng ngôn ngữ để bắc những chiếc cầu, xây dựng sự hòa hợp và mục tiêu chung trong khi vẫn giữ vững được con đường mình đi.

Trong nhiều năm qua chúng tôi đã tổ chức những khóa tu cho những nhà lãnh đaọ về khí hậu khắp nơi trên thế giới. Trong 3 ngày đầu của khóa tu chúng tôi yêu cầu thiền sinh vui lòng tin tưởng chúng tôi và chỉ đầu tư thì giờ vào sự thực tập trở về với chính mình. Chúng tôi nhận ra rằng thiền sinh có thể cảm thấy hơi tội lỗi về việc này. Nhưng chúng tôi đảm bảo với họ là điều này rất quan trọng vì chúng ta muốn làm những hành động dựa trên tình thương, trên sự chăm sóc và trị liệu. Nếu không tiếp xúc được với những gì xảy ra trong nội tâm mình thì chúng ta hiến tặng được gì cho thế giới?

Trở về với chính mình không có nghĩa là chúng ta đặt sự chú tâm lên cái tôi của mình, mà là chúng ta tìm ra được những hạt giống tốt đẹp ở bên trong để đem ra gieo trồng ở bên ngoài. Như vậy chúng ta sẽ có nguyên liệu để hiến tặng cho người thương, bạn bè, đồng nghiệp và tất cả mọi người chung quanh ta. Điều quan trọng nhất là hiến tặng sự có mặt của mình. Bắt đầu với những người gần ta nhất, những người ta cảm thấy dễ chịu, và nhận ra được sự thay đổi và trị liệu đang bắt đầu xảy ra. Từ những kinh nghiệm đó, niềm tin của ta sẽ lớn dần. Ta thấy được sự thành công ở mức độ nhỏ và tin rằng mình cũng sẽ thành công được ở mức độ lớn hơn.

Trong những năm đầu sau khi xuất gia, khả năng của tôi còn rất hạn hẹp.  Số lượng  khổ đau tôi có thể lắng nghe mà không phản ứng lại hay bị căng thẳng còn rất giới hạn. Dần dần tôi có đủ chánh niệm hơn để nhận ra rằng mình có thể quay về nương tựa vào hơi thở. Dù sự chia sẻ kia có thể rất đau lòng, nhưng thay vì bị cuốn theo và bị nhận chìm trong buồn khổ thì tôi được hơi thở bảo hộ. Tôi có mặt cho khổ đau nhưng tôi vẫn giữ được chủ quyền. Sự thực tập nội tâm rất cần thiết vì những thứ chúng ta đang đối mặt hiện nay sẽ mang lại tuyệt vọng và đau buồn. Chúng ta đều cần một nơi để quay về, và chúng ta cần tăng thân. Tăng thân là con đường phía trước. Chúng ta không thể làm một mình. Chúng ta cần một phong trào tập thể, một sự tỉnh thức tập thể, một sự thực tập tập thể.

Lần đầu tiên pha trà cho Thầy sau khi trở thành thị giả, tôi rất nôn nóng pha cho Thầy một tách trà ngon nhất. Vừa chế nước sôi lên những lá trà mới, tôi đã vội muốn rót ra tách để dâng lên Thầy. Nhưng Thầy bảo: Khoan, con hãy để trà ngồi yên. Nếu ngồi thiền thì tất cả mọi thứ đều sẽ tốt hơn. Con hãy cho phép trà được ngồi yên trong 2 phút để hương thơm và tinh ba của trà có thể biểu hiện. Tất cả đều cần thời gian để có thể hiến tặng cái tốt nhất của nó. Từ đó “Tạo cơ hội để mọi thứ được hiến tặng cho đời tinh ba thực sự của nó“ đã trở thành mục tiêu của tôi.

Tâm thức là căn bản của cách thức chúng ta chế tạo ra thế giới. Chúng ta sống trong một nền văn hóa muốn làm cho mọi việc trở nên cầu kỳ hơn nó thực sự là. Và ở đây lại có sự góp phần của cái tôi. Không ai tin được, phương thức giải quyết vấn đề cấp bách của sự thay đổi khí hậu hay công việc đóng góp vào nền hòa bình thế giới lại nghe như có vẻ giản dị như vậy. Có câu: Đừng ngồi đó, hãy làm cái gì đi chứ. Thầy nói ngược lại: Đừng làm gì cả, cứ ngồi đây thôi. Ngồi đây thôi không có nghĩa là không làm gì cả. Ngồi đây thôi có nghĩa là nhìn sâu vào nguyên nhân của khổ đau. Như vậy, chúng ta có thể tháo gỡ được những lớp phức tạp của tình huống.

Nếu không thể ngồi yên và kết nối với sự sống, chúng ta sẽ tiếp tục chồng chất thêm những lớp rắc rối lên khổ đau của mình. Vì vậy cánh đầu tiên của thiền tập là học cách dừng lại, làm chậm lại. Khi con thú bị thương, nó biết dừng lại, nghỉ ngơi và trị liệu. Chúng ta nghĩ, ngồi yên và “không làm gì cả“ là không đóng góp. Ngược lại, chúng ta cho rằng, chỉ khi làm việc thì mình mới đóng góp. Lẽ dĩ nhiên, có khi điều này cũng đúng. Nhưng cũng có khi hành động của chúng ta không dựa trên tuệ giác của sự trị liệu và chuyển hóa mà dựa trên ý muốn che đậy và trốn tránh điều gì đó. Tập khí chung này đã trở thành một phần của văn hóa chúng ta.

Trong thế giới được thúc đẩy bởi những chuyển động liên tục, sự thực tập dừng lại –  ngồi yên, thở và trở về với chính mình – là một hành động cực đoan. Nhưng điều này giúp chúng ta nhìn rõ, hành động với lòng từ bi thay vì chỉ phản ứng lại, và nuôi dưỡng hạt giống của tuệ giác và sự chuyển hóa. Thực sự dấn thân cho thế giới không bắt đầu bằng những cử chỉ vĩ đại mà bằng những khoảnh khắc có mặt bé nhỏ và vững chãi trong những lúc nguy nan. Tiếp xúc được với sự yên lặng nội tâm, chúng ta bắt đầu tiếp xúc với thế giới một cách sâu sắc hơn. Trên căn bản đó, hành động  của chúng ta, cho dù khiêm tốn đi nữa, cũng sẽ trở thành một phần của sự thức tỉnh tập thể. Đó là cách thức chúng ta đem sự thực tập ra thế giới: không trốn tránh khổ đau mà đối diện nó với sự sáng suốt, bình tĩnh và với tình thương.

Dịch từ sách Calm in the Storm, Zen Ways to Cultivate Stability in an Anxious World
Tác giả: Brother Phap Huu & Jo Confino
Parallex Press xuất bản 2025

Hòa bình-Tâm bình thế giới bình

Thầy Nhất Hạnh trả lời câu hỏi của các thiền sinh về vấn đề Hòa bình

Con người phải làm thế nào để đem lại hòa bình trên thế giới?

Chúng ta phải bắt đầu ở chính mình. Chúng ta phải học làm thế nào để trở thành hòa bình. Ta phải làm cho thân , cảm thọ và tri giác của mình có bình an. Cách ta suy nghĩ, cách ta nói năng phải có bình an. Nếu làm thành công thì ta có thể tạo cảm hứng cho người khác cũng làm được như vậy. Và thế giới sẽ được bình an.

Nếu có nhiều sự căng thẳng, sự đau nhức trong thân thì ta sẽ không có bình an. Chúng ta phải thực tập để làm thư giản sự căng thẳng và làm dịu đi sự đau nhức trong thân thì ta sẽ có nhiều bình an hơn.

Nếu trong ta có những cảm xúc như sự giận dữ, sự sợ hãi hay bạo động mà ta biết cách thực tập như sử dụng hơi thở hay bước chân để làm lắng dịu những cảm xúc đó thì ta sẽ có bình an. Chúng ta phải ăn uống như thế nào để thân ta không bị xáo trộn. Chúng ta phải đọc sách và tạp chí nào, phải xem những phim nào không tưới tẩm hạt giống của bạo động, sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong ta. Đó là sự thực tập hòa bình. Chúng ta phải rất  cẩn thận! Ta không nên tiêu thụ những thứ gì mà trong đó có bạo động, sự giận dữ và sự sợ hãi như những trò chơi điện tử, sách báo hay phim ảnh. Như vậy ta sẽ không có bình an và thế giới sẽ không có hy vọng được bình an. Trước tiên chúng ta phải thực tập là hòa bình để thế giới có được hòa bình. Vì vậy chúng ta có câu:“Tâm bình thế giới bình.“

Thưa Thầy con nghĩ tăng thân chúng con nên sử dụng những phương thức đi ra ngoài luật lệ như là dùng thân mình làm những tấm lá chắn để thức tỉnh con người và để chấm dứt chiến tranh và bạo động trên thế giới.

Tôi nghĩ tốt hơn là mình nên trở thành những tấm gương để người khác noi theo. Mình xây dựng một đoàn thể trong đó có bình an, có tình huynh đệ. Đoàn thể của mình thể hiện được hòa bình và tình huynh đệ thật sự. Mình tiêu thụ như thế nào để có thể bảo vệ được môi trường. Mình nói và nghe như thế nào để không có sự chia rẽ và giận dữ trong đoàn thể. Mình sống một cách giản dị và có hạnh phúc. Tôi nghĩ đó là phương pháp xây dựng hòa bình nhanh nhất, tại vì mình cho người khác thấy rằng hạnh phúc có thể có được mà không cần phải có nhiều tiền hay nhiều vũ khí tức những thứ mà người ta cho là cần thiết để có thể sống còn. Đoàn thể của mình lành mạnh, lành mạnh cho mình và lành mạnh cho thế giới. Chúng ta sống như thế nào để có một tương lai.

Chúng ta làm gương cho những người khác tới quan sát và họ có thể học hỏi nơi đoàn thể của mình. Họ đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền bạc và sắc dục nhưng họ không có hạnh phúc. Những thứ đó tàn hại thân và tâm của họ, tàn hại môi trường, tạo nên nhiều giận dữ và bạo động trong xã hội. Khi thấy lối sống của chúng ta họ sẽ thức tỉnh và thay đổi. Lối sống của mình, đoàn thể của mình là một bài pháp thoại cho họ. Với một đoàn thể như vậy chúng ta có thể thực tập giáo dục hòa bình. Chúng ta có thể tới nhiều nơi để nói với những người khác một cách cụ thể rằng: Đây là lối sống để có được hạnh phúc mà không cần phải tạo ra bạo động và thèm khát trên thế giới.

Chúng ta phải xây dựng hàng chục đoàn thể như vậy. Thật ra ở Làng Mai chúng tôi đang làm công việc đó. Bắt đầu từ một đoàn thể thực tập chánh niệm, chúng tôi thành lập thêm một cái, rồi một cái nữa… Chúng tôi tổ chức những khóa tu ở những trung tâm tu tập. Người ta tới với chúng tôi để thực tập con đường hòa bình, thực tập sống đời sống giản dị và có chánh niệm. Sau đó họ trở về nhà và lập tăng thân. Hàng ngàn tăng thân đã được thành lập bởi những thiền sinh, và công việc đó đang tiếp tục lan rộng. Đó là con đường bất bạo động. Chúng ta không cần dùng cái chết để có thể gởi ra thông điệp. Trái lại chúng ta cần phải sống để tiếp tục công việc. Mình có thể vào tù và tiếp tục chống đối. Nhưng chống đối không phải là cách hay nhất. Dù có chống đối mạnh mẽ đi nữa thì mình cũng không giúp được cho người khác chuyển hóa được sự sợ hãi, sự giận dữ, sự thèm khát của họ. Chỉ cho họ một con đường bằng một cách thức thật dễ thương cùng với sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì mình mới có thể giúp cho họ thức tỉnh để họ chọn con đường khác thay vì đi theo con đường cũ của bạo động, chia rẽ và kỳ thị. Đó là mình hạnh động thật sự chứ không thụ động.

Xây đựng tăng thân, sống theo Năm Giới, thực tập tiêu thụ có ý thức, thành lập những gia đình, những đoàn thể có hạnh phúc và giúp cho những người khác cũng làm được như vậy. Tôi nghĩ đó là phương pháp để đem lại hòa bình cho thế giới.

Mình tập viết một lá thư tình thay vì viết một lá thư chống đối. Ví dụ như mình muốn viết thư cho ông dân biểu hay cho ông tổng thống của mình, nếu mình chỉ viết một lá thư chống đối thì ông ta sẽ không thay đổi gì đâu. Nhưng nếu mình viết một lá thư tình nói rằng:“Kính thưa ông tổng thống, kính thưa ông dân biểu, chúng tôi biết ông có rất nhiều khó khăn và đau khổ. Ông muốn thực hiện giấc mơ của mình để giúp cho dân, cho nước nhưng ông chưa thể làm được. Chúng tôi hiểu, nên chúng tôi xin đề nghị vài điều…“ Trong bức thư mình giúp cho ông ta nhận diện được sự sợ hãi, sự giận dữ, sự thèm khát trong ông. Nó đã ngăn không cho ông thực hiện được giấc mơ của ông. Khi đọc lá thư, ông ta có thể nhờ vào tuệ giác của mình mà chuyển hóa. Nếu mình chỉ biết viết một lá thư chống đối thì nó sẽ không có được tác dụng như vậy. Mình phải học cách viết một lá thư tình để giúp cho người kia hiểu được chính họ và thay đổi. Đó là hòa bình.

Kính bạch Thầy con cũng muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Nhưng khi theo dõi tin tức hàng ngày con cảm thấy những hạt giống của sự tuyệt vọng, sự bất lực trong con được tưới tẩm. Con phải thực tập như thế nào để xử lý vấn đề đó?

Đừng nghe tin tức nhiều quá! Tôi không còn đọc báo nữa. Tại sao phải nghe tin tức nhiều lần trong ngày? Nếu có những tin vui thì không ai thông báo cho chúng ta cả.

Có thể vì trong tâm mình có sự cô đơn, trống trải nên mình cần biết những gì đang diễn ra trên thế giới với hy vọng là có một việc tốt xảy ra. Nhưng sự thật thì những việc xảy ra hầu như đều là không tốt. Hàng ngày chúng ta nghe tin tức nói về giết chóc, chiến tranh, bạo động. Không riêng những nhà báo thôi mà có rất nhiều người chỉ toàn loan ra tin tức xấu. Vì vậy chúng ta cần phải đóng cửa lại và đừng nghe tin tức nhiều quá.  Chúng ta cần để thì giờ gieo trồng bình an và từ bi trong ta.

Phần lớn bạo động trên thế giới là kết quả của sự kỳ thị. Người ta không chấp nhận được nhau vì con người có những lối suy nghĩ, có những cách hành xử khác nhau. Chúng ta có những ý niệm khác nhau về “tốt và xấu“ và đánh giá người khác dựa trên những ý niệm đó. Có rất nhiều sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ trên thế giới. Chúng ta sát hại lẫn nhau vì sợ rằng nếu mình không giết người kia trước thì người kia sẽ giết mình. Bạo động bắt nguồn từ sự sợ hãi và sự nghi ngờ.

Nếu để thì giờ gieo trồng thêm hiểu và thương, giúp làm giảm bớt sự nghi ngờ, sự sợ hãi và sự giận dữ trên thế giới thì ta đã giúp được cho thế giới. Là một nhà giáo hay một nhà báo chúng ta có thể thực tập như thế nào để giúp cho con người trở nên bao dung hơn, hiểu biết hơn, từ bi hơn. Đó là việc chúng ta có thể làm được mỗi ngày.

Là một nhà báo, mình phải tường thuật một vài biến cố bạo động. Nhưng mình có thể viết bài phóng sự đó như thế nào để không tưới tẩm thêm hạt giống của sự giận dữ, sự sợ hãi và sự tuyệt vọng trong lòng của những đọc giả. Mình có thể trình bày những gì đang thật sự xảy ra, nhưng trong lúc viết bài phóng sự mình có thể giúp đọc giả  hiểu được tại sao những biến cố đó lại xảy ra. Người ta đọc bài phóng sự của mình và trở nên hiểu biết hơn, có từ bi nhiều hơn. Là một nhà báo mình có thể giúp làm giảm bớt năng lượng của sự giận dữ, sự sợ hãi và kỳ thị trên thế giới.

Mỗi người trong chúng ta đều có thể làm một cái gì đó trong đời sống hàng ngày của mình để giúp làm giảm thiểu sự hiểu lầm, sự kỳ thị, sự sợ hãi, sự giận dữ và bạo động trên thế thế giới. Thay vì khổ đau vì cái quả thì chúng ta hãy chăm sóc cho cái nhân!  

Con người Tiếp Hiện

Sư cô Chân Đoan Nghiêm

Khóa tu 2026

Nurturing the Fire (NUÔI DƯỠNG NGỌN LỬA)

Khoá tu Plum Village – Kỷ niệm 60 năm thành lập Dòng Tu Tiếp Hiện

Kính bạch Thầy khả kính và thương quý,

Kính gửi các anh chị em Tiếp Hiện (OI) trên toàn thế giới,

Kính gửi các tăng thân địa phương trên toàn cầu,

Khoá tu Plum Village tháng 6 năm 2026 sẽ kỷ niệm 60 năm thành lập Dòng Tiếp Hiện (OI), được Thiền sư Thích Nhất Hạnh sáng lập vào năm 1966. Thành viên của Dòng Tu Tiếp Hiện (OI) gồm cả xuất sĩ và cư sĩ, những người thực tập và sống theo Mười bốn Giới Tiếp Hiện.

Đây sẽ là cơ hội quý giá cho gia đình Tiếp Hiện toàn cầu được sum họp tại Plum Village – trung tâm tu tập lâu đời nhất trong số 11 trung tâm tu tập của Làng Mai trên thế giới.

Khoá tu sẽ kéo dài bốn tuần:

Tuần 1: Ngày đến 1.6.2026, ngày đi 8.6.2026.
Tuần này mở rộng cho tất cả những ai quan tâm đến con đường Bồ Tát của Dòng Tu Tiếp Hiện. Nội dung tu tập xoay quanh lịch sử và pháp môn của Dòng Tu Tiếp Hiện. Mọi người sẽ có cơ hội tiếp nhận Năm giới quý báu, vốn liên hệ mật thiết với Mười bốn Giới.

Tuần 2 và 3: Ngày đến 9.6, ngày đi 23.6.2026.
Hai tuần này dành riêng cho các thành viên và các vị tập sự đã được chính thức chấp nhận. Chúng ta cùng nhau quán chiếu sâu về quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng Dòng Tu Tiếp Hiện thân thương. Đây là thời gian tu tập chuyên sâu, với pháp thoại và pháp đàm, xoay quanh các chủ đề:

  • Làm thế nào để thực hiện lý tưởng Bồ Tát,
  • Các phương thức củng cố Dòng Tu Tiếp Hiện,
  • Ý nghĩa và tính thời sự của Hiến chương Dòng Tu Tiếp Hiện ngày nay.

Người tham dự được khuyến khích ở trọn hai tuần để duy trì tính liên tục của sự tu học.

Tuần 4: Bắt đầu 24.6, kết thúc 30.6.2026.
Để tiếp nối năng lượng của khóa tu, một nhóm đại diện xuất sĩ và cư sĩ sẽ họp Hội đồng Dòng Tu Tiếp Hiện như Hiến chương quy định. Hội đồng sẽ thảo luận những thay đổi liên quan đến Dòng Tu, vốn được chuẩn bị trong tuần 2 và 3 qua sự lắng nghe sâu. Hội đồng cũng sẽ chọn ra một Ban điều hành, chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn sinh hoạt của Dòng Tu Tiếp Hiện thế giới cho đến kỳ họp sau.

Thời gian trôi nhanh, và chúng tôi muốn chia sẻ ý tưởng, dự định ngay từ bây giờ để chuẩn bị cho khóa tu năm 2026.

Nếu bạn là thành viên một tăng thân địa phương, một tăng thân TH, hoặc một nhánh nào khác của gia đình Làng Mai, xin hãy suy nghĩ về việc tổ chức các buổi “Fire-building” – nơi những thành viên TH chính thức, những vị tập sự và những vị tu tập dấn thân có thể chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất hướng đi cho tương lai của DTTH và tăng thân Làng Mai toàn cầu.

Thêm thông tin và gợi ý cho các buổi Fire-building có trong Thư mời Fire-building.

Chúng tôi cũng khuyến khích các tăng thân địa phương và vùng miền, cũng như giới trẻ Wake Up và những vị thực tập tinh tấn, tạo điều kiện tài chính cho những ai cần hỗ trợ để tham dự. Chúng tôi chân thành hy vọng quý vị có thể tham gia cuộc họp Đại tăng thân quan trọng này của Dòng Tu Tiếp Hiện.

Với lòng tri ân,
Ban tổ chức và điều phối khóa tu TH tháng 6.2026

(Anh-Huong Nguyen, sư cô Chân Đức, sư cô Định Nghiêm, Shantum Seth, Mitchell Ratner, Michael Schwammberger, Gitu Seth, sư cô Hội Nghiêm, Bettina Romhardt, Kai Romhardt, thầy Pháp Lai, thầy Pháp Hữu, Vari McLuskie, thầy Pháp Khả, Valerie Brown, sư cô Hiến Nghiêm, sư cô Trai Nghiêm và thầy Phương Cần.)

Đăng ký tham dự: Thông tin chi tiết sẽ được thông báo sau.

Học lại thương yêu

Chân Sinh Nghiêm

Các bạn trẻ thân mến,

Tôi đã chạy vòng quanh trong 30 năm để đi tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực mà không thành công. Tôi đã từng trải nghiệm qua những đỉnh cao hưng phấn và đã từng chìm sâu vào vực tối hoang mang, bởi vì tôi không biết cách thương yêu thật sự. Tôi không nắm được nghệ thuật vui với những những thứ bình thường trong đời sống hàng ngày. Tôi muốn chia sẻ với các bạn về cuộc hành trình của riêng tôi trên con đường đi tìm tình yêu đích thực. Tôi hy vọng các bạn có thể rút ra được chút gì đó và sự chia sẻ này có thể giúp các bạn tránh được những khổ lụy không cần thiết, những khổ đau có thể ngăn cản bạn trải nghiệm được tình yêu và hạnh phúc đích thực. Chúng ta sống trong một thế giới được trang bị đầy đủ vô số các phương tiện truyền thông nối kết chúng ta với nhau. Nhưng nhiều khi chúng ta lại không có khả năng lấp được khoảng trống nội tâm. Chúng ta không biết làm thế nào để xử lý những cảm giác cô đơn, xa cách.

Những trải nghiệm tình dục (khi chưa xuất gia), từ bé cho đến khi lớn lên sau này, đã gây cho tôi rất nhiều thương tích bởi vì trong tôi có sự lầm lẫn nghiêm trọng giữa tình yêu và tình dục. Khi còn bé tôi đã bị một người con trai lớn tuổi hơn lạm dụng tình dục. Trong đầu óc trẻ con non nớt của tôi, hạt giống của sự tin tưởng đã bị tổn hại ở hai mức độ: sự tin tưởng đối với nam giới và sự tin tưởng đối với ba mẹ. Tôi không biết cách hòa giải với cảm xúc giận dữ đối với ba mẹ tại vì họ không bao giờ có mặt đó để ôm ấp và bảo vệ tôi.

Nhìn lại những cuộc tình đã qua của tôi, tôi có thể thấy rõ là lúc nào tôi cũng cố gắng đi tìm cho cô bé bị thương trong tôi một thứ gì như là hiểu biết và thương yêu

Tôi cắt đứt quan hệ tình cảm với ba mẹ và quyết định là tôi sẽ tự chăm sóc cho mình. Về phương diện tình cảm, tôi không chờ đợi gì ở họ nữa. Quyết định này đã khiến tôi đi tìm một tình yêu vô điều kiện ở bên ngoài, tương tự như tình thương mà tôi đã cắt đứt. Nhìn lại những cuộc tình đã qua của tôi, tôi có thể thấy rõ là lúc nào tôi cũng cố gắng đi tìm cho cô bé bị thương trong tôi một thứ gì như là hiểu biết và thương yêu. Nhưng sự cố gắng này luôn đưa tới sự thất bại, bởi vì nó đã đến từ một cái thấy sai lạc, cho rằng người khác có thể chữa lành cho cô bé bị thương kia. Thật ra thì chỉ cần cô ta hòa giải và kết nối lại với kho tàng tình thương của ba mẹ lúc nào cũng có sẵn đó cho cô thì sự trị liệu sẽ xảy ra thôi.

Trong gia đình huyết thống của tôi có những khổ đau của “sự chung thủy và ghen tuông“. Khổ đau đó có trong ba mẹ và cả trong ông bà của tôi. Là sự tiếp nối của họ tôi đã tiếp nhận những hạt giống tham dục và khổ đau đó. Nhưng tôi không nhận ra được và không biết cách chuyển hóa chúng. Tôi lại lớn lên trong một xã hội mà người ta lại đặt trọng tâm vào sự thỏa mãn dục vọng như thể đó là mục tiêu của đời mình. Tôi không tránh khỏi có những quan niệm méo mó về tình yêu và tình dục. Hình như trong xã hội của chúng ta có quá nhiều “tình dục trống rỗng“, nó để lại trong tôi một cảm giác trống trải và xa cách mặc dù những người đến với tôi là những người dễ mến, có học thức, kể cả những người có sự thực tập tâm linh. Lúc đầu thì tôi cảm thấy có một sự kích thích mới mẻ và niềm vui được đến với nhau, nhưng sau một thời gian thì cái cảm giác khó chịu và xa cách kia lại trồi lên.

Nhìn lại những cuộc tình đã qua, tôi thấy nhiều mối quan hệ đã được hình thành trên căn bản của một sự lôi cuốn hời hợt và nhất thời do nhu cầu thương và được thương không được thỏa mãn trong tôi

Không ý thức được quan niệm sai lạc của mình và hậu quả của nó, tôi còn học cách sử dụng năng lượng tình dục để kiểm soát và chinh phục, cho đó là cái quyền thể hiện sức mạnh của nữ giới trong thời đại của tự do tình dục và không cần một sự cam kết lâu dài. Tôi đã sống như vậy, không để tâm đến cảm nhận của người khác. Những cuộc tình đã qua đều đến từ sự lôi cuốn hời hợt và nhất thời. Sự lôi cuốn đó phát sinh từ nhu cầu thương yêu và/hay được thương yêu và chấp nhận không được thỏa mãn trong tôi

Tôi thấy động lực thúc đẩy tôi đến với những cuộc tình đó đều là đến từ tôi: tôi cần cái gì, tôi muốn cái gì, cái gì thích hợp cho một gia đình trong tương lai theo sự mong đợi của tôi. Hay là do tôi không muốn sống một mình, tôi thích „đùa chơi“ tí thôi. Hay tôi không muốn bị xem như một người “bỏ đi“, một người ế ẩm không ai thèm và sẽ trở thành một cô gái già. Thành thực mà nói, trong những cuộc tình đã qua của tôi, tôi chưa hề biết thế nào là tình yêu thật sự. Tôi xin lỗi tất cả những người đã từng đến với tôi. Tôi xin lỗi vì không biết cách chăm sóc đau khổ của tự thân và làm cho các người cũng phải khổ theo.

Năm 30 tuổi, với một quá trình chọn lọc thông minh tiến bộ, tôi nghĩ mình có thể chọn lọc được những đức tính quan trọng nhất mà tôi đòi hỏi ở một người bạn đời để đảm bảo cho một sự cam kết tốt đẹp dài lâu, cho đến khi hai đứa chúng tôi trở thành hai cụ già xọm không còn cái răng nào, ngồi bên nhau cùng ôn lại chuyện cũ. Nhưng một lần nữa, cùng với tình yêu lãng mạn, tôi lại gặp những khó khăn và khổ đau xoay quanh những khuôn mẫu tương tự như sự ghen tuông và chiếm hữu, sự xa cách, những cảm giác trống trải, chán nản, bất như ý trong tôi, giống như cái hậu vị chua chua khi chúng ta ăn một món tráng miệng thật ngọt. Với tỷ số những cặp vợ chồng ly dị cao hơn 50%, tôi không có nhiều hy vọng có được một mối quan hệ hạnh phúc và lâu dài. Tôi muốn tìm ở người kia một cảm giác thân mật gần gũi nhưng cuối cùng tôi lại cảm thấy xa cách và lạc lõng hơn trước.

Có cái gì trong tôi ngăn cản không cho tôi có được hạnh phúc và sự mãn ý mà tôi khao khát trong một mối quan hệ. Bất kể là với ai, tôi đều gặp phải những vấn đề tương tự. Vì thế tôi quyết định không hành xử theo phương cách thông thường nữa, tôi dừng lại những mối quan hệ tình cảm để nhìn sâu vào tự thân mình. Tôi xin nghỉ việc và ghi tên tham dự khóa An Cư 3 tháng mùa Đông ở Làng Mai. Sau khi trải nghiệm được niềm vui của đời sống Tăng Thân, bình an và hạnh phúc của sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày và hiểu được chính mình hơn thì sự lựa chọn một lối sống và một sự nghiệp khác càng trở nên hấp dẫn hơn. Tôi trở thành một sư cô trong khi đi tìm một tình yêu đích thực.

Có một điều thật buồn cười là tôi chỉ bắt đầu khám phá được tình yêu đích thực  khi chọn đời sống độc thân, nhưng điều đó đang thực sự xảy ra. Tôi vẫn đang học về tình thương đích thực, tại vì thương yêu đích thực là một sự thực tập hàng ngày mà không phải là một cảm giác. Nó làm cho trái tim mình lớn rộng và bao dung hơn. Tôi thấy bước đầu tiên trong quá trình học thương là học cách chăm sóc và đối xử với thân tâm mình một cách kính trọng và từ bi.

Tôi biết rằng bước đầu tiên trong quá trình học thương là học cách chăm sóc và đối xử với thân tâm của mình một cách kính trọng và từ bi

Bước đầu tiên trong việc chăm sóc tâm là tôi ý thức được những cảm quan của mình và những tri giác sai lầm do những cảm quan đó tạo ra. Bây giờ tôi có thể thấy rõ là khổ đau của tôi đến từ nhận thức sai lầm của mình về nam giới, từ cái thấy lệch lạc về chính bản thân và từ quan niệm u mê về tình dục, tình yêu và những mối quan hệ. Lớn lên trong một môi trường của công nghệ thông tin, tôi nghĩ rằng nhận thức sai lầm của cá nhân tôi cũng là một phản ảnh của nhận thức chung của xã hội. Truyền thông là một yếu tố quan trọng trong việc huân tập quan niệm của tôi về những mối quan hệ.  Ví dụ như, tôi còn nhớ phim Jerry Maguire đã từng một thời rất nổi tiếng trong thập niên 90. Trong phim, nhân vật nữ chính nói một câu thoại như thế này: „Em đã yêu anh ngay ở câu xin chào“, hoặc là „Anh hoàn thiện con người em“. Vào thời đó tôi nghe thật là lãng mạn. Nhưng bây giờ, nhớ lại những câu thoại kia, tôi nghĩ nhân vật nữ chính ấy đang đi tìm khổ đau tại vì khi lệ thuộc quá nhiều vào một người hoặc một vật nào ở bên ngoài để được hoàn thiện thì coi như mình đánh mất hết chủ quyền đối với hạnh phúc và sức khỏe của bản thân.

Trong vô số những phim khác tôi thấy người ta đã có quan hệ tình dục với nhau sau vài lần hoặc chỉ sau một một lần hẹn hò. Hoặc có rất nhiều bài hát về tình dục, nhiều đến nỗi bạn sẽ bị cho là không bình thường nếu bạn không có quan hệ tình dục với người kia, cho dù là bạn có yêu người kia hay không, và không cần biết là bạn đã quen với người kia bao lâu. Người ta hẹn hò với nhau vì sự hấp dẫn bề ngoài. Có vô số phương tiện giúp làm tăng cái đẹp bề ngoài để gây sự chú ý như quần áo, mỹ phẩm, phẩu thuật thẩm mỹ, giảm cân, v.v…Chúng ta đã bỏ quá nhiều thời giờ và tiền bạc, chúng ta đã cố gắng quá nhiều, phải chịu đau đớn để trả giá cho cái đẹp bề ngoài và để trở thành khác hơn là chính mình. Vì vậy cho nên, nếu hiếm khi tôi cảm thấy thoải mái trong da thịt của chính tôi thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên cả! Sự huân tập qua phương tiện truyền thông, gia đình và bạn bè này đã bắt đầu ở tuổi thiếu niên rồi.

Tôi lớn lên trong sự tiêu thụ những hình ảnh của một cái đẹp được chỉnh sửa thật hoàn hảo bằng airbrushed trên máy tính của những phụ nữ cao, gầy trơ xương với những đường cong thật đúng chỗ, với da mặt đẹp “tự nhiên“ một cách hoàn mỹ. Từ lúc còn niên thiếu tôi đã không chấp nhận được thân thể của mình, có khi tôi còn khinh thường nó nữa. Tại sao tôi luôn cảm thấy mình khiếm khuyết sau khi xem qua mấy tạp chí phụ nữ hay tạp chí thời trang, trong khi mục đích và ý nghĩa của các tạp chí này là để yểm trợ cho sức khỏe và hạnh phúc của nữ giới? Tôi không mua các tạp chí đó thường xuyên, nhưng những tấm quảng cáo được dán đầy ngoài đường phố, trong các trung tâm thương mại, quảng cáo được chiếu trên truyền hình và được đưa lên mạng như thể “nhồi ép“ con người phải theo tiêu chuẩn của một lối sống tiêu thụ và một hình ảnh thật „ngầu“ của chính bản thân. Điều này thật là tai hại vì nó làm cho tôi cảm thấy chán ghét chính bản thân, tôi không chấp nhận được hoàn cảnh của mình. Tôi không có cơ hội để sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại vì lúc nào tôi cũng phải mua sắm cái gì đó để có hạnh phúc, để được “ngầu“. Vì có mặc cảm về thân thể mình nên tôi chưa bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái và thực sự kết hợp được với ngưòi kia cho dù người kia có thể chấp nhận tôi như tôi là.

Bảy năm sau khi xuất gia thành một sư cô và được sống trong một môi trường không có những tham dục, tôi vẫn đang học cách trị liệu cho cái thấy được huân tập về thân thể của mình. Hàng ngày tôi thực tập chuyển hóa tập khí cũ trong sự tiếp xúc với người khác, tiếp xúc mà không bị thúc đẩy bởi sức hấp dẫn hay ý muốn chinh phục. 

Cái ý nghĩ “không chấp nhận bản thân“ đã ăn sâu trong tôi cho đến nỗi, sau khi xuất gia và được sống trong một môi trường không có những tham dục được 7 năm mà tôi vẫn còn đang học cách chữa trị những cái thấy được huân tập về thân thể mình và thực tập chuyển hóa tập khí cũ trong sự tiếp xúc với người khác, tiếp xúc mà không bị thúc đẩy bởi sức hấp dẫn hay ý muốn chinh phục. Tôi học cách đối xử với thân thể tôi một cách kính trọng và từ bi. Tôi ý thức được thức ăn mình đang ăn, tôi ngủ đầy đủ và thư giãn. Tôi học cách xử lý sự căng thẳng và những cơn bão cảm xúc bằng cách sử dụng hơi thở và bước chân chánh niệm. Chung quanh tôi là một môi trường nhiều thiên nhiên có công năng trị liệu, một môi trường giống như Đất Mẹ tiếp nhận được tất cả. Là một bông hoa xinh đẹp hay một chiếc lá hư tàn, chúng ta đều là những sáng tạo mầu nhiệm của Đất Mẹ. Bông hoa không thể so sánh và chê bai chiếc lá tại vì chiếc lá có khả năng cung cấp những chất dinh dưỡng để nuôi cây và bông hoa.

Sau khi rời bỏ môi trường cũ và cho phép mình trải nghiệm một môi trường mới thứ hai, một môi trường không có những kích thích dung thường, tôi mới có thể thấy rõ hơn tác dụng của sự huân tập trên cách hành xử và sự lựa chọn tiêu thụ hàng ngày cho sức khỏe của thân và tâm. Sống trong của một xã hội công nghệ cao như hiện nay giống như bơi trong một dòng thác lũ. Chúng ta chỉ bị cuốn đi, trồi lên sụp xuống mà không tự chủ được. Thỉnh thoảng chúng ta dừng lại lấy hơi và thoáng thấy được một chút trời xanh. Nhưng nếu tìm được cách thoát ra khỏi dòng thác lũ đó và ngồi lên bờ thì chúng ta sẽ nhận ra rằng bình an và thong dong là điều có thể có được. Trời xanh và cây xanh thật đẹp, những vì sao lấp lánh trong đêm linh thiêng là những mầu nhiệm, và chúng ta cũng là những mầu nhiệm.

Các nhà dinh dưỡng thường nói:“Quí vị là cái mà quí vị ăn“ Tôi nghĩ điều này cũng đúng với tâm của mình. Điều mình nghĩ, điều mình làm, kể cả những tập khí của mình, đều tùy thuộc vào những gì mà mình tiêu thụ qua những cảm quan đưa tới nhận thức của mình về một cái gì đó. Nếu mình tiếp tục tiêu thụ hình ảnh, âm thanh và ý tưởng có mục đích củng cố thêm những nhận thức đó thì nó sẽ trở thành một quan niệm ăn sâu trong tâm thức của mình. Nó trở thành sự thật của mình. Quá trình này xảy ra một cách thật tinh vi cho đến nỗi mình cũng không nhận ra là mình đã thay đổi quan niệm và nhận thức.  Nếu quan niệm đó sai lạc thì nó sẽ là nền tảng của mọi hành động gây ra phiền não và khổ đau cho mình. Tôi không qui lỗi cho truyền thông và xã hội đã làm cho tôi đau khổ. Tôi chỉ cố gắng chia sẻ để chúng ta thấy rõ những cảm quan đã tác động hàng ngày lên tâm của ta như thế nào. Chúng ta chọn tiêu thụ một cách thông minh để có thể bảo hộ cho thân và tâm. Cũng giống như khi ta nhúng hoa lan trắng vào nước có pha màu tím thì hoa lan sẽ trở nên tím. Ta chọn cho mình thực phẩm nào, ta chọn màu nào cho hoa lan ta đây?

Chúng ta có ý thức hơn về sự tác động hàng ngày của những cảm quan lên tâm của mình. Chúng ta chọn tiêu thụ một cách thông minh để có thể bảo hộ cho thân và tâm.

Tôi đã chứng thực được điều này khi sống giản dị hơn, với ít kích thích cảm quan hơn. Tôi tập vui với những cái đơn giản và thấy được sự mầu nhiệm trong những cái bình thường của đời sống. Tôi sắp xếp lại thứ tự ưu tiên cho bản thân theo một chiều hướng đúng đắn. Chúng ta hay xem thường những chuyện đơn giản như đi dạo trong buổi hoàng hôn thật đẹp, ngắm ánh trăng vẽ qua cành lá những hình bóng tuyệt đẹp trên nền đất, cùng người thương thưởng thức màu thơm ngon của lá mùa thu trong chiều chủ nhật. Những cái mình làm hàng ngày có thể là chính là cái cần thiết nhất cho tinh thần khi tâm mình ở cùng với thân, khi mình có mặt trong giây phút hiện tại và an trú trong hơi thở chánh niệm. Đất Mẹ cung cấp cho mình biết bao nhiêu là phép lạ. Nhưng chỉ khi nào dừng lại thì mình mới có thể tiếp nhận để được trị liệu và chuyển hóa. Nếu không thì mình chỉ là người cùng tử, chạy tìm vòng quanh trong khi mình đã có bảo vật trong tay.

Trong những khóa tu mùa hè tại Làng Mai chúng tôi thường tổ chức chương trình cho người trẻ. Năm ngoái khi làm việc với người trẻ tôi rất đau lòng khi nghe câu chuyện của nhiều người trẻ chán ghét thân thể của mình. Các em thấy mình cần phải che dấu cái xấu của mình bằng cách trang điểm thật nhiều hay mình chỉ có thể thu hút người khác bằng cách ăn mặc khêu gợi hay mình chỉ được chấp nhận và thương yêu khi nào mình đồng ý có sự quan hệ tình dục. Thật là không may khi rượu chè, ma túy và quan hệ tình dục trở thành một nguồn áp lực của bạn bè đồng trang lứa trước khi người trẻ trưởng thành về mặt tinh thần và tình cảm để có thể xử lý những vấn đề đó. Biết được sự thật này thì tôi hiểu tại sao người ta lại chỉ biết tình dục trống rỗng mà không chạm tới được tình yêu đích thực và tại sao họ lại đau khổ vì cái thứ hạnh phúc cạn cợt này. Chúng ta phải làm gì để giúp các bạn trẻ có được những quan niệm thực tế hơn, có cái nhìn dễ thương và kính trọng hơn về cái đẹp, về tình yêu và tình dục cũng như những quan niệm có công năng nuôi dưỡng và xây dựng con người thật của mình.

Trong sự thực tập hàng ngày chúng tôi có một bài kệ đọc lên khi soi gương:

Chánh niệm là đài gương
Gương soi hình tứ đại
Đẹp nhất là tình thương
Và cái nhìn rộng rãi

Khi mình có từ bi và không gian trong trái tim thì người khác sẽ thấy nơi mình một sức lôi cuốn tự nhiên và sẽ tìm tới mình, mình không cần sử dụng mỹ phẩm hay sức hấp dẫn nào. Trái lại, nếu mình là những người mẫu nổi tiếng với y phục và trang sức thật đẹp mà mình lại đi xem thường người khác, cho rằng mình đã biết tất cả rồi thì người khác cũng không thích tiếp xúc với mình. Một thống kê của Road Dahl cũng đưa ra vấn đề này:“ Nếu quí vị có một tâm hồn tốt đẹp thì nó sẽ thể hiện lên mặt của quí vị như tia sáng mặt trời và lúc nào quí vị cũng tỏa sáng.“ Học làm đẹp và nhìn cái đẹp theo cách đó thì chúng ta sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều người khác. Và chỉ có một ý thức tập thể mới có thể làm thay đổi những trào lưu độc hại trong xã hội.

Mùa hè năm ngoái, khi tham dự khóa tu Wake Up Earth tại Làng Mai tôi đã trải nghiệm được sự trị liệu và có cái thấy thật sâu sắc về mối quan hệ giữa tôi và  nam giới. Đã 7 năm qua tôi thực tập chữa lành vết thương của tuổi thơ và tôi nghĩ là tôi đã tiến bộ rất nhiều. Trong khóa tu tôi chứng kiến được cảnh một thầy xúc động tới rơi nước mắt khi nghe sự chia sẻ của bà Christiana Figueres.  Tôi cảm động làm sao khi biết cái làm thầy ấy xúc động cũng là chính cái làm tôi xúc động. Tôi phát hiện ra là trên một bình diện nào đó trong tiềm thức, tôi đã cảm thấy có một hố sâu chia cách giữa tôi và nam giới. Trong những năm qua tôi đã có một quan niệm cơ bản là xem đàn ông gần giống như những con thú chỉ nghĩ tới hoặc bị thúc đẩy bởi tình dục. Có thể là họ còn tệ hơn thú tại vì ít nhất thú vật chỉ tích cực trong mùa giao phối, còn con nguời thì có thể quanh năm và bất cứ lúc nào. Cũng không phải là tôi chưa từng thấy một người đàn ông khóc, nhưng trong lúc đó có một cái gì đánh thẳng vào trong tâm tôi, giống như trong như trò chơi “Rà Mìn“, khi ta bấm chính xác vào cái ô vuông thì một góc của tâm tôi bỗng sáng rộng ra, để lộ cái mìn đen đầy gai nhọn của những tri giác sai lầm về nam giới. Nó đã khiến tôi đối xử thiếu tôn trọng với họ hoặc xem họ như những trò chơi thú vị. Còn không thì tôi giữ một khoảng cách lạnh nhạt hoặc dán cho họ cái nhãn“vượt ra ngoài sự hiểu biết“. Sau khóa tu tôi có cơ hội nói chuyện với thầy kia, thầy chia sẻ là khoá tu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thầy, đã giúp thầy trong quá trình nhìn sâu và chuyển hóa những khó khăn trong việc xử lý năng lượng tình dục và trong sự tiếp xúc với nữ giới.

Trong khóa tu này một sự trị liệu bất ngờ nữa cũng đã xảy ra cho tôi. Đó là tôi nghe một anh thiền sinh chia sẻ sự thực tập Thiền Lạy liên quan tới năng lượng tình dục. Có một cái gì đó trong con người anh đánh động tôi mà tôi không thể nào diễn tả được. Có thể là do anh thực tập quá sâu sắc, hay là do tuệ giác và sự chuyển hóa anh có được trong khi thực tập riêng với các bạn nam mà không có sự hiện diện của nữ giới. Tôi cảm thấy mình đưọc trị liệu nhờ sự thực tập khiêm cung của anh và nhờ sự thực tập tập thể của nhiều người bạn nam. Sự thực tập Thiền Lạy hùng tráng này đã làm cho họ rất xúc động. Nó giống như một sự bắt đầu mới, một lời mời để làm mới lại quan niệm về năng lượng tình dục. Đây là sự xác nhận hùng hồn về tính tương tức. Trong khi thực tập để chữa lành cho mình thì đồng thời mình cũng chữa lành được cho người khác. Khi mình để hết tâm hướng về sự trị liệu và từ bi thì mình có thể chế tác ra những làn sóng năng lượng ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều người khác một cách thật bất ngờ.

Tôi nghĩ, sống trong một xã hội, chúng ta đã làm tổn thương nhau vì những quan niệm sai lầm về giới tính. Mình nghĩ mình hiểu đàn ông và đàn bà họ muốn cái gì, nhưng có thật là mình hiểu được không? Chúng ta đã làm tổn thương nhau. Những tri giác sai lầm về tình dục đã gây ra biết bao nhiêu là hiểu lầm về tình yêu và tạo ra khổ đau trong những mối quan hệ. Trong buổi pháp đàm cuối khóa tu tôi đã chia sẻ với nhóm về những vết thương của quá khứ và về tuệ giác này. Tôi cảm ơn các bạn thiền sinh nam vì họ đã thực tập quá giỏi. Tôi xin lỗi vì đã có cái thấy sai lạc về họ. Tôi đã không thấy đưọc phương diện tâm linh thiêng liêng của họ, sâu hơn nữa là tôi đã không xem họ như những con người đáng được tôn trọng. Nước mắt tôi chảy ra cuốn theo những cái thấy sai lầm, tôi cảm thấy tôi đã chữa lành được nhận thức của mình về nam giới. Tôi có thể làm mới lại sự thực tập tiếp xúc với nam giới một cách vô giới tính, và nhìn họ như họ thật sự là. Trong khi trị liệu những vết thương của quá khứ và những quan niệm sai lầm, tôi cũng chuyển hóa được tập khí tiêu cực của mình về nam giới.

Trong buổi tối cuối khóa tu Wake Up Earth, chúng tôi làm văn nghệ Be-in (có mặt cho nhau) với đề tài “Bảo vệ Đất Mẹ“. Tiết mục cuối là Bài ca Đất Mẹ. Tôi nghĩ là buổi tối sẽ chấm dứt một cách chậm rãi và bình an thì bỗng nhiên một ban nhạc đứng lên, xin mở âm thanh to hơn và mời vài người tình nguyện ra nhảy. Hầu như mọi ngươì đều đổ xô ra chật cả sân khấu. Sư cô Phú Nghiêm, một trong những người điều khiển chương trình, phải mời thiền sinh ngồi xuống trở lại tại vì như vậy thì không ai còn thấy được ban nhạc đâu nữa. Nhiều người miễn cưỡng về lại chỗ ngồi, nhưng những người khác thì vẫn ở lại vì thấy có ra một khoảng trống đã được mở ra phía sau sân khấu.

Lúc ban nhạc bắt đầu trình diễn thì nhịp jive của bản nhạc lại làm mọi người cảm thấy ngứa chân. Ngay sau đó, các thiền sinh bắt đầu chuyển động theo nhạc môt cách hạnh phúc và tự do. Thầy Pháp Lưu, một người điều khiển chương trình khác, nói “ Chào mừng các bạn đến với Club Làng Mai!“. Tôi thấy mãn nguyện, tôi có cảm tưởng như mình đang tham dự một buổi tiệc gia đình tại nhà. Có thể có người phản ứng tiêu cực hơn và nói,“ trong một tu viện Phật giáo mà lại có chuyện này à?“. Nhưng tôi lại thấy vui vì đó là một bằng chứng vững chắc cho người trẻ thấy là chúng ta có thể có vui chơi “trong sạch“ mà không cần tới rượu, ma túy và tình dục! Điều này có thể xảy ra vì suốt trong một tuần chúng tôi đã để thì giờ quán chiếu, tìm hiểu chính mình và người khác trong một môi trường có thể giúp chúng tôi nuôi dưỡng được lòng từ bi và sự hiểu biết.

Thật là tuyệt vời khi bạn có thể thật là bạn và có thể tiếp xúc với người khác mà không có thành kiến hay phải đeo mặt nạ.

Hơn bao giờ hết tôi đang khám phá ra tình yêu đích thực khi tôi được sống trong một môi trường không có sắc dục, một môi trường với lối tiêu thụ tự nhiên lành mạnh từ đoàn thực cho tới thức thực (hoàn toàn không có bạo động, bi kịch và thông tin quá tải). Được sống với những tri kỷ, những người có ước nguyện thương yêu tất cả chúng sinh, thật sự giúp cho tôi thực tập thương yêu đích thực một cách vững chãi. Thật là tuyệt vời khi bạn có thể thật là bạn và có thể tiếp xúc với người khác mà không có thành kiến hay phải đeo mặt nạ. Khi tôi học không bám lấy cái tốt hay xa lánh cái xấu của người khác thì đồng thời tôi cũng học được cách xử lý tính tốt và tính xấu của mình. Đó là sự khiêm cung, và nó nuôi dưỡng đức tính kiên nhẫn trong tôi. Tiếp xúc với người kia bằng tình thương, chăm sóc họ, giúp đỡ họ vô điều kiện cũng giải thoát cho chúng ta. Chúng ta có thể cảm thấy được hạnh phúc sâu sắc, sự bình an và niềm vui vì sự có mặt của người kia mà không cần sự xúc chạm thân thể nào.  

Tôi thật sự muốn khuyến khích người trẻ nên để thì giờ tìm hiểu thế nào là tình yêu đích thực trước khi lao vào một mối quan hệ. Trước tiên bạn hãy cho mình thời gian cần thiết để học hiểu và chăm sóc thân và tâm của mình. Mỗi ngày bạn có thể để thời giờ ngồi yên để nhận diện những gì đang xảy ra trong mình, làm cho thân tâm mình lắng dịu xuống hoặc mở lòng ra cho một vài cảm hứng đang nằm sâu trong tâm, bị che lấp bỏi công việc bận rộn hàng ngày.  Mặt khác, bạn cũng có thể ghi tên tham dự khóa tu trong 1 tuần hay lâu hơn. Khóa tu được tổ chức trong một môi trường có khả năng giúp bạn làm lắng dịu thân tâm cùng với sự thực tập giúp bạn nhìn sâu vào chính tự thân. Chỉ sau đó rồi thì bạn mới đủ tự do và tình thương để bắt đầu một mối quan hệ. Có như vậy thì mối quan hệ với chính bạn và với người khác, dù cho có tình dục hay không, cũng sẽ đươc viên mãn và thăng hoa.

Dịch từ bài viết “Beginning Anew to love“ của sư cô Chân Sinh Nghiêm (Wake Up Community 01.05.2017)

Tự do nội tâm – Hơi thở thứ 14

Hỏi:

Kính thưa Thầy, chúng con rất mến mộ đức trầm tĩnh của Thầy, nhưng con xin phép được hỏi Thầy: Thầy cảm thấy như thế nào khi có rất nhiều người nhìn chăm vào Thầy, quay phim, chụp hình và bị những luồng ánh sáng từ bóng đèn của máy chụp hình, quay phim chiếu thẳng vào mặt, v.v…Khi có người sùng bái Thầy, tôn kính Thầy thì Thầy cảm thấy như thế nào? Tâm của Thầy có bị ràng buộc, dao động không? Có khi nào Thầy cảm thấy bực bội, giận hờn, lạnh lùng khi phải đối diện với vấn đề này không? Thầy thực tập như thế nào đối với vấn đề danh vọng? Đứng trước những vấn đề như thế, làm sao Thầy giữ được tâm của mình cho bình lặng và vững vàng? Có khi nào Thầy thực tập thiền ôm với những người Thầy rất thân, gần gũi không?

Thầy:

Có chứ! (đại chúng cười ầm lên). Nếu mình là người mới xuất gia, mới được thọ giới, ban đầu có thể mình sẽ cảm thấy khó chú tâm, cảm thấy khó chịu khi có người tới lễ bái để bài tỏ lòng cung kính của họ đối với Tam Bảo. Nhưng đất nước của tôi đa phần dân chúng đều theo đạo Bụt; họ đã quen nhìn thấy hình ảnh của các thầy các sư cô trong chiếc áo tràng, hay chiếc áo nhật bình nâu. Khi họ thấy bóng dáng của các thầy và các sư cô trong chiếc áo tu màu nâu, họ liền tưởng nhớ đến đạo Bụt, đến đức Thế Tôn và họ luôn luôn bày tỏ lòng tôn kính đối với các thầy, các sư cô. Họ muốn được lễ bái trước mặt các thầy, các sư cô, nhất là đối với các vị đã tu hành lâu năm để cầu phúc. Nếu mình vừa mới được xuất gia, thọ lãnh giới pháp thì mình sẽ cảm thấy khó chịu, áy náy khi có người tới lễ bái và cung kính mình. Trong trường hợp này, ta không thể bảo họ:”Xin quý vị đừng làm như thế, Tôi nghiệp con. Con chỉ là một sư chú, một sư cô mới xuất gia thôi. Quý vị làm như thế thì con sẽ bị tổn phước.” Theo tôi, các sư chú, sư cô không nên từ khước như thế. Họ phải thực tập ngồi cho thật yên, theo dõi hơi thở và thiết lập chánh niệm vững chãi trước mặt mình. Họ nên thực tập quán tưởng để thấy rằng người ấy đang cung kính và lễ bái Bụt, Pháp và Tăng qua mình. Mình là một biểu tượng đại diện cho Tam Bảo. Là một sa di mới được thọ mười giới, quí vị phải học phép thực tập này ngay từ những ngày đầu mới xuất gia. Đối với Phật tử cư sĩ, lễ bái Tam Bảo là để cầu Tam Bảo gia hộ, che chở cho thân tâm họ, gia quyến của họ được an ổn, đời sống được hạnh phúc. Họ lễ bái không phải để tôn vinh cái bản ngã của mình mà để bày tỏ niềm cung kính đối với Bụt, Pháp và Tăng nơi mình mà thôi. Nếu nghĩ rằng người ta lễ bái, cung kính cái bản ngã của mình, thì lầm rồi vậy. Đời tu của ta có thể bị hư hỏng nếu ta có những ý nghĩ sai lầm như thế. Ngay từ giây phút mới xuất gia, sư chú hoặc sư cô phải học cách ngồi yên, thiết lập sự vững chãi, thảnh thơi và cứ mặc nhiên cho người ta lễ lạy Tam Bảo qua cái thân tướng người tu của mình. Cũng giống như quý vị đứng nghiêm trang chào lá cờ Mỹ, hẳn nhiên không phải quý vị đứng chào cái mảnh vải đang bay phất phới trên cái cột, mà thật sự quý vị đang chào, đang tưởng niệm đến đất nước, con người, các anh hùng và lịch sử của đất nước quý vị, có phải vậy không? Vậy chiếc áo nâu sòng cũng chỉ là một biểu tượng như lá cờ mà thôi. Nếu bị kẹt vào tướng, quý vị sẽ đánh mất bản chất đích thực của mình.

Tôi luôn thực tập an trú vững chãi trong chánh niệm và bảo hộ tâm ý mình để tâm hành tham lam danh vọng không động được tới tôi. Chỉ khi nào mình bị thất niệm thì mình mới bị mất mình. Nếu quý vị an trú vững vàng trong chánh niệm, có khả năng gìn giữ và hộ trì tâm ý, thì danh vọng, uy quyền sẽ không động được tới quý vị.

Tuy nhiên không phải thầy nào, sư cô nào cũng làm được điều đó một cách dễ dàng. Có rất nhiều thầy và sư cô bị vướng vào cạm bẫy của danh lợi, của uy quyền, của sự hưởng thụ,… Họ trở thành những nạn nhân của nếp sống thỏa mãn ngũ dục, đời tu của họ đã bị hư hỏng, tâm Bồ Đề bị hủy hoại. Nhìn lại chính mình, tôi thấy tôi chưa bao giờ bị vướng vào những thứ ấy. Hạnh phúc của tôi được làm bằng những yếu tố khác như yếu tố của an lạc, vững chãi, hiểu biết, thương yêu và tự do. Khi có điều gì vừa bắt đầu trở thành chướng ngại, làm vướng bận thân tâm mình, tôi có khả năng quán chiếu, buông bỏ liền lập tức và làm được một cách dễ dàng. Tôi gọi đó là sự thực tập thả bò. Buông bỏ được những con bò của danh lợi, uy quyền, nếp sống hưởng thụ dục lạc… đạt được tự do và tình thương lớn là sự thắng lợi lớn nhất của người tu. Ví dụ tôi muốn thành lập một trung tâm tu học và công việc này có thể là một công việc cần thiết. Nhưng nếu trong quá trình xây dựng trung tâm tu học, xây dựng tu viện mà tước đoạt mất niềm vui, hạnh phúc và sự thảnh thơi của tôi thì tôi phải buông bỏ. Tôi không cần có một trung tâm tu học nếu công việc xây dựng ấy tước đoạt mất niềm an lạc, hạnh phúc và tự do của mình. Điều đó không có nghĩa rằng tôi thấy bại, không thành công trong công trình xây dựng một trung tâm tu học, mà vì tôi thấy rằng buông bỏ là một thắng lợi, nghĩa là tôi đã gìn giữ, bảo hộ được tự do của mình. Đó là gia tài quý giá nhất của người tu. Đối với danh vọng cũng vậy. Quý vị có thể đánh mất tự do và hạnh phúc nếu quý vị bị vướng vào danh vọng. Nhìn vào cách sống của một người xuất gia hay tại gia, ta có thể biết ngay được người đó đang có tự do hay không. Dầu quý vị là một nhà triệu phú hay một ông chủ của một công ty lớn hoặc đang giữ một chức vị cao trong chính phủ, quý vị vẫn không thể gọi là người hạnh phúc nếu quý vị không có tự do nội tâm và không gian chung quanh. Tự do nội tâm và tình thương chính là chất liệu làm cho đời sống chúng ta trở nên hạnh phúc thật sự, chứ không phải uy quyền, danh lợi, địa vị, nói cho đủ là ngũ dục: tài, danh, sắc, thực và thụy.

 Đây là những điều ta sẽ được học trong phép quán niệm hơi thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở:”Tôi đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu của vạn pháp. Tôi đang thở ra và quán chiếu vê tính không đáng tham cầu của vạn pháp.” Khi đi tôi trân quý và tận hưởng từng bước chân của tôi. Khi thở vào thở ra, tôi tận hưởng từng hơi thở vào ra của tôi. Mỗi khi ngồi uống trà với đệ tử, tôi tận hưởng từng chén trà tôi đang uống và trân quý sự có mặt của các đệ tử của tôi. Tôi biết tiếp xúc và thưởng thức cái đẹp nhiệm mầu của trời xanh, mây trắng, núi rừng. Tôi sống được như thế là nhờ tôi có tự do và biết trân quý tự do. Là một người tu, một người thầy, tôi phải có tự do; nếu không, tôi không thể làm thầy được. Nếu tôi bị ảnh hưởng hay vướng vào sự tôn vinh, danh vọng và tài vật thì tôi không xứng đáng là thầy của các đệ tử của tôi.

Đề tài này không phải để chúng ta bàn luận mà chính là để chúng ta thực tập nhìn sâu và tự mình khám phá. Tôi hy vọng tất cả chúng ta có thể thực tập theo tinh thần này. Nếu chúng ta không có tự do nội tâm, nếu còn bị ràng buộc bởi những con bò của danh vọng, uy quyền và tài vật, chúng ta sẽ không bao giờ đạt tới được chân hạnh phúc, không bao giờ đạt tới được tự do lớn. Điều này được áp dụng cho tất cả mọi người trong Tăng thân.

Thiền sư Nhất Hạnh

Trích trong sách”Hơi thở nuôi dưỡng Hơi thở trị liệu“ Áp dụng Kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati Sutra) vào đời sống hàng ngày. Thầy Chân Pháp Niệm dịch từ bản tiếng Anh”The Path of Emancipation”, phuongnambook, Hồng Đức xuất bản.

Bước tới thảnh thơi

(Cảm nghĩ về khoá tu Xuất Gia Gieo Duyên)

Chúng con là:
Gia đình Cá Ông rất to
Gồm những sư chú sư cô vừa mới thọ (Giới Sadi, Sadini)
Vượt qua những tháng ngày mưa giông nắng gió
Đã về đã tới bây giờ ở đây tại Waldbröl
Được tiếp nhận gia tài tâm linh vô cùng giàu có
Với ước mơ hoài bão thật to
Nguyện tu tập tinh cần chuyển hóa hết âu lo
Bước tới thảnh thơi vô cùng tự do
Bằng chánh niệm trong từng bước chân nho nhỏ
Thở nhẹ và sâu, biết mỉm cười với những niềm đau khốn khó
Dẫu biết trên đường đời biển cả sóng to
Luôn nguyện dìu nhau bước qua bao tháng ngày gian khó
Đi như một dòng sông, hiểu và thương sáng tỏ
Chỉ cần quay về nương tựa Bụt, Tổ, Thầy để thở
Là đã có đường đi rồi con không còn lo sợ

Nhân duyên đưa con đến khoá tu xuất gia gieo duyên là vì cuối năm ngoái gia đình con liên tiếp đối diện những mất mát đau thương về tinh thần vì sự ra đi đột ngột của những người thân. Khi chứng kiến cảnh gia đình mình đương đầu với bệnh tật và cái chết của người thân trong nỗi hoang mang, sợ hãi, bất lực đã làm con chấn động rất nhiều. Cả nhà con chênh vênh và suy sụp, những nhân duyên nghiệp quả biểu hiện cũng chưa đủ làm cả nhà thức tỉnh. Người mất thì cũng đã mất, người sống thì lại tiếp tục quay trở lại với những bộn bề hối hả của cuộc sống thường nhật, không có một điểm tựa tâm linh nào để quay về nương tựa chăm sóc vực dậy tinh thần sau cơn mê. Ý thức được sâu sắc những thực trạng khổ đau đó, con đã quyết tâm phải thu xếp để tham dự cho bằng được khóa xuất gia gieo duyên tại EIAB Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu Đức năm nay để gieo duyên cho gia đình huyết thống của mình được tiếp nhận gia tài tâm linh của chư Bụt và Bồ Tát.

Và chúng con đã về đã tới, bây giờ ở đây với một gia đình tâm linh rất lớn, từ bốn phương trời và từ khắp năm châu, không phân biệt màu da tôn giáo, tuổi tác, cùng về đây xây đắp yêu thương. Giữa vòng xoáy hối hả của cuộc sống, khi những cơn sóng phiền não, âu lo cho gia đình, công việc, học hành, mưu sinh, cơm, áo gạo, tiền luôn bủa vây chúng con, thì giờ phút được dừng lại, ngồi thật yên, lắng lòng lại mới thấy trân quý biết bao. Chúng con được tập khí công mỗi sáng cùng nhau, ngồi thiền, đi thiền hành, nghe pháp thoại, học giới luật và uy nghi, uống trà, ăn cơm, chơi đá cầu, đi dạo trong rừng, làm vườn, lau nhà, rửa chén, ăn kem, đi hái cherry, buông thư… cùng nhau. Chúng con còn được cùng giúp nhau đắp y, sửa áo, cùng giúp nhau cạo tóc, cùng khóc cùng cười với nhau… Cái cảm giác quây quần bên nhau ấm áp như một gia đình có các sư cô chú anh chị lớn lẫn những sư em con cháu nhỏ sao mà nuôi dưỡng quá chừng, cùng yểm trợ nâng đỡ cho nhau hết lòng và luôn có mặt trọn vẹn trong từng hoạt động thời khóa thực sự là gia tài vô giá mà chúng con đã may mắn được tiếp nhận trong khóa tu đặc biệt này.

Không khí hân hoan háo hức của buổi lễ xuất gia đã rộn ràng trong lòng chúng con khi vừa tới Viện Phật Học, chúng con được đi thử y, áo tràng và tập dượt, xung quanh quý Thầy, quý Sư Cô cũng bận rộn chăm sóc chuẩn bị đêm ngày cho buổi lễ, đặt tên pháp tự, sắp xếp mọi thứ thật trang nghiêm. Không khí rộn ràng như một ngày vui lớn của Viện Phật Học, một khoá tu đặc biệt quá chừng vì sẽ có tới 49 sư chú và sư cô mới toanh!

Đến ngày xuất gia chính thức, chúng con ai cũng bồi hồi xúc động, không khí linh thiêng đặc biệt của buổi lễ truyền cho chúng con rất nhiều năng lượng thương yêu khi quý thầy, quý sư cô vô cùng xúc động và nuôi dưỡng khi chúng con được thực sự biểu hiện màu nhiệm trong lòng tăng thân. Khi tiếng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm (Namo Avalokiteshvara) của đại chúng vang vọng trong thiền đường, quý sư cha, sư mẹ, quý thầy, quý sư cô bước xuống rưới nước cam lồ tịnh thủy và cắt tóc cho giới tử, trong không khí thiêng liêng, mầu nhiệm đó, con đã không ngăn được những dòng nước mắt cứ chảy dài nức nở không ngừng. Ngay lúc ấy, bỗng con cảm nhận một bàn tay nhẹ nhàng ấm áp đặt nhẹ lên mái đầu con, ấm áp êm dịu như một biển tình thương lan tỏa khắp thân tâm khiến con thấy nuôi dưỡng và hạnh phúc vô cùng. Bàn tay từ bi của Bụt, của Tổ, của Sư Ông, của quý thầy, quý sư cô thương yêu tin tưởng và trao truyền cho chúng con những gia tài tâm linh vô giá, nâng đỡ dìu dắt chở che cho chúng con trên con đường tu tập khiến những lọn tóc cứ buông nhẹ cuốn đi những âu lo, muộn phiền.

Hình ảnh Viện Phật Học qua một đêm bỗng chốc tràn đầy BIỂN áo nâu cạo sạch mái tóc thật là đẹp và nuôi dưỡng 🙂 Những sư chú, sư cô vừa được cạo sạch mái tóc ung dung tự tại, đẹp rạng ngời như những em bé thơ ngây đang ríu rít hân hoan chào nhau bằng tên pháp tự mới. Ở ngoài đời, mỗi ngày thức dậy chúng con đều lo lắng đứng trước gương và tủ quần áo để chọn lựa hôm nay mặc gì, tóc tai để kiểu nào, áo quần kết hợp ra sao, mỹ phẩm phụ kiện thế nào.

Từ ngày được xuất gia, được học sâu về ý nghĩa nếp sống thiểu dục tri túc của người xuất sĩ thực sự nuôi dưỡng chúng con rất nhiều. Một màu áo nâu giản dị khiêm cung, cạo sạch mái tóc nhẹ cả mái đầu, mặc áo của người tu rất thoải mái, dễ chịu, rộng rãi, thảnh thơi. Chúng con còn được thực tập đi đứng nằm ngồi uy nghi trong chánh niệm bằng những bài thi kệ vô cùng nuôi dưỡng. Thầy viện trưởng còn ân cần từ bi chỉ dạy chúng con từng ly từng tí qua cách gấp áo tràng khi đứng sao cho đẹp, cách đi lên xuống cầu thang và đứng lên ngồi xuống như thế nào với tà áo tràng dài cho có uy nghi, cách thực tập ôm bình bát đi khất thực làm sao để nuôi dưỡng bồ đề tâm của mình. Nhìn các sư anh, sư chị, sư em với diện mạo mới đều tràn đầy từ bi tươi vui hạnh phúc như anh em một nhà, ai cũng nhẹ nhàng thanh tao quá đi. Nhờ vậy con mới thực sự cảm nhận sâu sắc được vẻ đẹp đích thực không phải từ những trang sức bên ngoài mà từ chính nếp sống chánh niệm, lành mạnh. Có hiểu, có thương qua từng nụ cười dịu dàng, với ánh mắt thương yêu chân thành, chắp tay chào khiêm cung, từng bước chân nhẹ nhàng, những lời nói nuôi dưỡng, từng cử chỉ hành động trong chánh niệm đều toát lên vẻ uy nghi rất đẹp của người tu.

Những tháng ngày tu học nuôi dưỡng rồi cũng qua, kết thúc khóa tu gieo duyên chúng con phải xả y để trở lại đời sống thường nhật. Dù chỉ mới được xuất gia gieo duyên một thời gian ngắn, nhưng ai trong chúng con cũng đều được nuôi dưỡng rất nhiều hạt giống thương yêu và hiểu biết, nên giờ phút phải cởi y áo trả lại cho đại chúng, chúng con ai cũng nghẹn ngào không nỡ rời xa. Hình ảnh xúc động nhất là cảnh các sư chú, sư cô vừa cởi y vừa khóc nức nở trong tiếng niệm con về nương tựa Bụt, con về nương tựa Pháp, con về nương tựa Tăng của toàn thể đại chúng. Ai cũng lưu luyến không muốn trả lại tấm Áo Giải Thoát linh thiêng màu nhiệm mà chúng con vừa mới được tiếp nhận. Chúng con có phước báu lớn được xuất gia gieo duyên tu học, được cảm nhận sâu sắc sự linh thiêng màu nhiệm của con đường giải thoát khi được về nương tựa Bụt, Tổ, Thầy. Cảm giác giờ đây phải rời xa mái nhà tâm linh của gia đình xuất gia khiến chúng con vô cùng bồi hồi xúc động, vì quá nhiều tình thương yêu, chăm sóc, ân cần, chỉ dạy đầy nuôi dưỡng những ngày qua.

Con ý thức rằng khi cạo sạch mái tóc trong khoá tu gieo duyên này mình không chỉ hiến tặng mái tóc dành tặng cho các bệnh nhân ung thư mà mình còn đang hiến tặng rất nhiều năng lượng bình an, chánh niệm, thương yêu và an lạc cho mọi người. Chính sự thực tập chánh niệm của chúng con đã là đóa hoa tươi thắm nhất để hiến tặng cho cuộc đời. Cám ơn Bụt, Tổ, Sư Ông đã sinh ra con thêm một lần trong đời sống này. Được biểu hiện trong lòng tăng thân xuất sĩ và học nếp sống phạm hạnh của người xuất gia là kỷ niệm nuôi dưỡng vô cùng sâu sắc không thể nào quên trong cuộc đời con.

Sư Ông ơi, ngày hôm nay chúng con hạnh phúc lắm ạ. Đàn Cá Ông của Sư Ông đã và vẫn đang tiếp tục được biểu hiện màu nhiệm trong lòng tăng thân. Chúng con nguyện sẽ đi như một dòng sông và tiếp tục nuôi lớn sự thực tập của mình dù ở bất cứ ở đâu bất cứ lúc nào và làm bất cứ việc gì.

Con trân quý và biết ơn sâu sắc,

Sư cô Biển Tĩnh Tại

EIAB thương yêu, Waldbröl tháng 6 năm 2025