Thiền sư Nhất Hạnh

Khi ta nghĩ, ta nói, ta làm thì có một chủ từ (subject) và một động từ (verb). Ví dụ như Descartes nói: “Tôi tư duy”, thì tôi là chủ từ (actor) và tư duy là hành động (action). Theo suy nghĩ của chúng ta, khi có hành động thì phải có một hành giả. Khi có động tác thì phải có tác giả, nếu không có tác giả thì ai làm?
Chúng ta nói: “Trời mưa!” Mưa là cái có thật, mưa có đó nhưng không cần có trời mới có mưa. Chúng ta nói: “Gió thổi!”, có chủ từ gió và động từ thổi. Nhưng nếu không thổi thì không phải là gió, gió tức là thổi. Không cần phải có một tác giả đứng sau lưng, có hành động mà không cần có tác giả.
Trong triết học hiện đại có thuyết gọi là existencialisme (hiện sinh chủ nghĩa) và Jean Paul Sartre, một triết gia người Pháp, có nói một câu gần như vậy: L’homme est la somme de ses actes (con người chỉ là hành động của nó, ngoài những hành động đó thì không có con người). Con người là gì?, đó là câu hỏi mà Jean Paul Sartre đã đưa ra. Làm sao để định nghĩa con người? Chúng ta chỉ có thể định nghĩa con người bằng những hành động. Hành động chính là con người, ngoài những hành động thì không có con người.
Trong đạo Bụt có danh từ nghiệp (hành động) tức những điều mình tư duy, những điều mình nói, những điều mình làm. Nghiệp chính là mình. Ngoài những điều đó ra thì không có mình, không có một cái ta. Sư thực tuyết đối là không có ông chủ cũng không có tác giả, chỉ có hành động mà không có người hành động. Khi chúng ta suy nghĩ thì sự suy nghĩ đó là một hành động, khi chúng ta nói năng thì nói năng đó là một hành động, khi chúng ta lao tác thì lao tác đó là một hành động. Chỉ có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp mà không có người tạo nghiệp. Chúng ta có một bài kệ tập thở rất hay như một ví dụ về sự tùy thuận tức sự khéo léo để có thể đi vào tuệ giác:
Để Bụt thở, để Bụt ngồi
Mình khỏi thở, mình khỏi ngồi
Chúng ta bắt đầu bằng hai câu kệ đó. Chúng ta làm biếng thực tập, chúng ta để Bụt làm cho mình. Mình tin trong người của mình có Bụt và niềm tin đó là một sự thực được xác nhận: có khi mình thở rất hay và ngồi rất giỏi, có những lúc mình ngồi rất đẹp, rất thanh tịnh, an lạc. Đó là Bụt, Bụt ngồi thở. Những lúc làm biếng hoặc mệt mỏi, mình nói với Bụt ở trong mình: “Bụt ơi, Bụt làm giùm cho con.”
Để Bụt thở, để Bụt ngồi
Mình khỏi thở, mình khỏi ngồi
Lúc đầu có Bụt, có mình, có thở và có ngồi. Có người thở và có người ngồi, người thở đó có thể là Bụt hay là mình. Chúng ta bắt đầu như vậy: có tác giả và có hành động, có chủ nhân và có tài sản.
Bụt đang thở, Bụt đang ngồi
Mình được thở, mình được ngồi
Chúng ta thấy rõ ràng có người thở, người ngồi và người đó thở rất hay, ngồi rất thẳng. Chỉ có Bụt mới có thể thở và ngồi hay như vậy. Bụt và mình không phải là hai thực thể tách rời, trong Bụt có mình, trong mình có Bụt. Khi mình nhường chỗ cho Bụt thì Bụt thở rất hay, Bụt ngồi rất đẹp và mình cũng được thở, mình cũng được ngồi. Bụt đang thở, chắc chắn phẩm chất của hơi thở của Bụt rất cao. Bụt đang ngồi, chắc chắn thế ngồi của Bụt rất đẹp.
Trong hai bài kệ đầu, tuy có sự làm biếng và ỷ lại nhưng mình đã có hạnh phúc rồi. Tu là từ từ có sự tiến bộ nên đến bài kệ thứ ba:
Bụt là thở, Bụt là ngồi
Mình là thở, mình là ngồi
Ban đầu mình thấy có Bụt và thở, hai cái khác nhau, một bên là tác giả và một bên là hành động. Nhưng đến bài kệ thứ ba thì nhìn vào phẩm chất của hơi thở mình biết đó là Bụt. Bụt chỉ là hơi thở đó, hơi thở đó chỉ có thể là của Bụt tại vì phẩm chất của hơi thở đó rất cao. Dáng ngồi đó vững chãi như vậy, chỉ Bụt mới có dáng ngồi đó và dáng ngồi đó chỉ có thể là Bụt. Mình nhận ra hơi thở đó, dáng ngồi đó là Bụt; ngoài hơi thở đó, ngoài dáng ngồi đó không có Bụt. Mình bắt đầu tiếp xúc được với chân lý tuyệt đối: không có tác giả, chỉ có hành động mà thôi. Jean Paul Sartre cũng nói tương tự như vậy: Con người là gì? Con người chỉ là hành động của anh ta mà thôi. Giá trị của con người là giá trị của hành động của anh ta mà thôi. Ngoài những hành động đó không có một con người riêng biệt cũng như ngoài gió không có một con người đứng để thổi, ngoài cơn mưa đang rơi thì không có một người đang làm mưa, không có thần mưa hay thần gió.
Trong bài kệ thứ ba chúng ta đã bắt đầu đi vào cửa: Bụt là thở, Bụt là ngồi. Mình là thở, mình là ngồi. Mình thấy được sự thực: Chỉ có thở, không có người thở. Chỉ có ngồi, không có người ngồi.
Tới bài kệ thứ tư thì chúng ta thấy rõ hơn nữa:
Chỉ có thở, chỉ có ngồi
Không người thở, không người ngồi
Nếu khéo léo chúng ta tùy thuận đi vào được tuệ giác và tiếp xúc được với tính vô ngã.
Tác giả là chủ thể hành động, và hành động thì đưa tới kết quả. Nghiệp là hành động, suy nghĩ là hành động, nói năng là hành động, lao tác là hành động. Chúng ta thường nghĩ rằng hành động nào cũng đem tới kết quả của nó: gieo bắp thì có bắp ăn, trồng đậu thì có đậu ăn. Hành động là nghiệp nhân (karma- hetu) sẽ đưa tới kết quả là nghiệp quả (karma-phala). Không có nhân nào mà không đem tới quả. Nghiệp nhân đưa tới nghiệp quả mà không cần có người tạo nghiệp. Không có người tạo nghiệp và không có người lãnh thọ nghiệp báo. Có nghiệp nhân và có nghiệp báo nhưng không có người gây nghiệp và không có người thọ quả báo.
Ví dụ cái nhà, tác dụng của nhà là chứa người ở. Cái nhà không cần phải làm gì cả, nó chỉ là cái nhà là đủ rồi. The house has to house people. The act of the house is housing. Chúng ta thường phân biệt có một cái nhà (house) và có một động tác là để cho người ở (housing). Nhưng nếu có một cái nhà mà không để cho người ở thì nó đâu phải là cái nhà? Vì vậy sự phân biệt ra làm hai,có hành động chứa người (housing) và có cái nhà (house), là không đúng. Ví dụ như vua, ông vua thì phải làm vua. Nếu không làm phận sự của một ông vua thì không phải là vua. Vua phải làm vua mới được gọi là vua. Trong văn học cổ điển trung quốc có câu: Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử. Vua phải làm vua, thần phải làm thần, cha phải làm cha, con phải làm con. Cha thì phải làm cha, chữ father là danh từ nhưng trong Anh ngữ father cũng là động từ. The father fathers, the king kings, the subject subjects, the son sons. Vì vậy chủ thể (actor) và hành động (action) là một, ngoài hành động thì không có chủ thể.
Mỗi ngày, các thầy, các sư cô, các vị cư sĩ đều lạy Phật. Khi mình lạy xuống thì đối tượng của cái lạy là gì? Cơ đốc giáo có nói tới Chúa Ngàn Đời (the Living Christ). Có thể người ta nghĩ chúa Ki tô mà họ đang muốn tiếp xúc là người đã xuất hiện cách đây hơn 2000 năm ở Bethleem. Hình hài đó, những tế bào cơ thể đó, sống tới tuổi đó, đã giảng dạy những điều đó, đã sinh ra ở đó, có phải họ nghĩ đó là đối tượng mà họ muốn tiếp xúc trong khi cầu nguyện không? Nhưng tất cả những thứ đó đã thuộc về quá khứ. Nếu chúng ta tưởng tượng mình đang tiếp xúc với hình hài đó thì e rằng không đúng. Như vậy, khi cầu nguyện với đức Ki Tô thì đối tượng cầu nguyện của mình là như thế nào, nó có phải là một cái ngã bất biến hay không? Mình có muốn tiếp xúc với hình ảnh và âm thanh của đức Ki Tô cách đây 2000 năm hay không? Những thứ đó không còn nữa, hay là mình tưởng tượng đức Ki Tô có một linh hồn, linh hồn đó vẫn còn khi thân xác ngài tan rã và mình cầu nguyện với linh hồn đó?
Chúng ta biết đức Ki Tô cũng như Phật Thích Ca được làm bằng uẩn, xứ, giới và thập nhị chi. Các ngài có hình hài, có những tế bào, những cảm thọ, những tri giác và những thứ đó chuyển biến trong từng giây từng phút. Khi lạy Phật thì đối tượng của cái lạy của mình là ai hay mình lấy hình ảnh cũ của 2500 năm trước để làm đối tượng? Chúng ta nghĩ như thế nào khi nói tới the Living Buddha, the Living Christ? Chúng ta nghĩ mình đang tiếp xúc với một con người y như trước, không biến chuyển. Chúng ta nghĩ như vậy có đúng hay không, nhất là khi chúng ta đã được thầy của mình dạy rằng: Tôi không có ngã, tôi chỉ được làm bằng uẩn, xứ và giới và nói luôn luôn chuyển biến. Quí vị tìm tôi qua hình sắc, âm thanh là quí vị đang hành tà đạo và quí vị không tiếp xúc được với tôi.
Hôm qua thầy đó đang lạy cái gì? Đối tượng của sự cung kính của mình là gì hay mình đang lạy trước hư vô? Khi cầu nguyện chúa Jésus thì đối tượng của sự cầu nguyện của mình là ai? Có phải là cái hình ảnh xưa, là cái hình bóng cũ hay không?
Ngày xưa, trong chiến tranh Việt Nam tôi có thiết lập một văn phòng của Giáo Hội tại Paris gọi là the Vietnamese Buddhist Peace Delegation in Paris. Một bà người Anh tình nguyện làm văn thư bằng tiếng Anh cho văn phòng. Tại văn phòng có những người trẻ như cô Mobi, cô Rebecca hay anh Hùng, nhưng cũng có một bà cụ hơn 70 tuổi. Bà rất mạnh, mỗi buổi sáng bà leo lên năm tầng lầu để đến văn phòng. Bà là người Anh và theo đạo Anglican. Bà có niềm tin rất chắc là khi bà chết rồi thì bà sẽ qua Nước Chúa và bà sẽ gặp ông chồng của bà trở lại. Ông thời còn trẻ rất đẹp, ông đã chết năm 32 tuổi. Một hôm tôi hỏi:
- Này bà Ethlewyn , khi bà chết và sang bên đó thì bà chờ đợi như thế nào? Bây giờ bà đã 75 tuổi, bà qua đó và đứng bên cạnh một anh chàng 32 tuồi thì coi sao được? Hay bà nghĩ ông đi về Nước Chúa và ông cũng lớn bằng bà và bây giờ ông cũng 75 tuổi như bà?
Nhiều khi niềm tin của chúng ta quá đơn giản. Hôm đó bà Ethlewyn giật mình tại vì bà chưa bao giờ nghĩ tới điều đó. Bà nghĩ một cách đơn sơ là sau khi chết bà sẽ sang Nước Chúa và sẽ gặp ông như ngày xưa lúc 32 tuổi. Ý niệm trong đầu của chúng ta rất quan trọng. Phật và Chúa mà mình lạy có phải là một cái ngã hay không?
Chúng ta học và thấy rằng Bụt là một con người, Chúa cũng là một con người và mình cũng là một con người. Nhìn sâu vào sự thực mình chỉ thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà không thấy có một cái ngã. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến chuyển từng giờ từng phút và cái này tạo ra cái khác, giây phút bây giờ tạo ra giây phút kế tiếp. Đó gọi là lưu chuyển, lưu là chảy, chuyển là thay đổi. Nhìn vào trong con người của Bụt, của Chúa hay của chúng ta cũng vậy, sự thực là không có một cái ngã thường tại mà chỉ có năm uẩn (hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức) và tất cả đều thay đổi từng giờ từng phút.
Cho rằng Chúa bây giờ cũng giống y như Chúa 2000 năm trước là không đúng. Trong thời gian 30 năm đó không lúc nào Chúa giống lúc nào. Bụt cũng vậy, Bụt của năm 30 tuổi khác với Bụt của năm 40 tuổi, Bụt của năm 40 tuổi khác với Bụt của năm 80 tuổi. Chúng ta muốn Bụt nào? Chúng ta tin rằng Bụt cũng với nét mặt đó, với những tế bào đó, điều đó là không đúng. Chúng ta chấp vào một cái thường tại, nhưng không có gì là thường tại, tất cả đều chuyển biến.
Nhưng cho rằng Bụt và Chúa ngày xưa bây giờ không còn nữa, điều đó cũng không đúng, tại vì không có gì có thể mất đi được. Chúa ngày xưa được làm bằng năm uẩn và năm uẩn đó đã lên đường tạo ra nghiệp. Năm uẩn của Bụt cũng đã lên đường tạo ra nghiệp và nghiệp đó vẫn tiếp tục cho tới bây giờ. Điều này chúng ta đã quán chiếu trong Sám pháp địa xúc: chúng ta lạy xuống và quán chiếu Bụt dưới những hình thức khác. Chúng ta thấy Bụt không phải dưới hình thức của 2500 trước mà dưới những hình thức mới. Khi nhìn lên trời chúng ta không thấy đám mây của mình nữa, nhưng điều đó không có nghĩa là đám mây không còn. Chúng ta có thể nhận diện được đám mây qua những hình thức mới của nó như ly trà chẳng hạn. Khi lạy Phật cũng vậy, chúng ta phải có cái thấy tỏ tường. Theo ánh sáng của lời dạy này thì không có Bụt như một cái ngã mà chỉ có Bụt như một hành động. Hành động của Bụt là tu tập, giải thoát, độ đời và những hành động đó đang được tiếp nối. Bây giờ Bụt vẫn có mặt, nhưng không có mặt theo như chúng ta tưởng. Khi lạy Bụt chúng ta tiếp xúc với Bụt như một loại năng lượng, một loại hành động. Đi thiền hành chúng ta tiếp xúc được với đất trời mầu nhiệm, chúng ta có an lạc, thảnh thơi. Như vậy chúng ta đã là sự tiếp nối của Bụt. Lạy hay không lạy thì Bụt cũng đã ở trong mình, tại vì nếu không có hành động của Bụt thì làm sao hôm nay mình có những bước chân an lạc, thảnh thơi như vậy. Bụt không phải là cái gì ở ngoài mình. Bụt là một thứ năng lượng, một thứ nghiệp tốt còn tiếp diễn cho tới ngày hôm nay. Nếu khéo léo chúng ta sẽ làm cho năng lượng đó càng ngày càng lớn. Lạy Phật như vậy mới đúng là lạy.
Nhìn sâu vào uẩn, xứ và giới dù là uẩn, xứ và giới của Bụt, của Chúa hay của mình, chúng ta không thấy có cái ngã hay có chúng sanh mà chỉ thấy hành động. Chúng ta hỏi các nhà khoa học: “Cái mà các ông gọi là điện tử được làm bằng cái gì? Nó có phải là tác giả (actor) và có hành động (action) riêng của nó hay không? Tác giả và hành động là một hay là hai cái khác nhau?” Bụt được làm bằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức; Bụt là một pháp hữu vi (composite object). Tất cả mọi thứ như chuông, đèn, áo, v.v… đều là những pháp hữu vi. Nhìn vào một vật chúng ta thấy những yếu tố tới để làm ra vật đó. Nhìn vào Chúa, vào Bụt, vào mình hay vào một bông hoa chúng ta cũng thấy như vậy. Đó là những pháp hữu vi. Chúng ta thử hỏi những nhà khoa học xem điện tử đó được làm bằng cái gì. Chúa Jésus hay Bụt hay bông hoa đều có một cái tên và điện tử đó cũng có một cái tên. Vậy tên của điện tử đó dùng để chỉ cái gì và điện tử đó được làm bằng yếu tố nào?
Trong ánh sáng của tuệ giác này thì có sự chuyển vận của uẩn, xứ và giới tức có sự chuyển vận của vật chất và tinh thần, nhưng nhìn cho kỹ thì ta không thấy có một cái ngã. Chủ đề “ tác giả và hành động” là một chủ đề rất lớn. Nếu quán chiếu cho khéo léo thì chúng ta thấy chỉ có hành động mà không có hành giả.
Trích trong bài pháp thoại thiền sư Nhất Hạnh giảng vào gày 24 tháng 11 năm 2011 tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai.
